Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026
Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn
Những bài và câu thơ tài hoa.
(Trích ghi chép sổ tay)
- Áo chàng đỏ tựa ráng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
(Đoàn Thị Điểm)
(1705- 1748)
- Tuyết in sắc ngựa câu giòn
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.
( Nguyễn Du)
(1765- 1820)
Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn (Tiếp theo)
Trích những lời bàn về
việc làm thơ của người xưa:
1.
Phạm Đình Hổ (1768 - 1839):
“Những kẻ chuộng công danh bây giờ thì chỉ theo đòi hóng gió, lặt lấy những chữ
bã mía của tiền nhân, tập làm cái thứ văn chương hoa hoét...”
2.
Lê Hữu Trác (1720 - 1790):
“Thơ cốt ở ý; ý có sâu xa thơ mới hay. Phải làm cho người đọc phải suy nghĩ...
thì thơ mới hay. Không phải bất cứ điều gì cũng phải nói ra bằng lời. Như thế
mới là thơ có giá trị.”
Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026
Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn (Tiếp theo)
Phần II
Phụ lục
Về thể thơ Haiku
Haiku: là một thể thơ có xuất xứ từ Nhật Bản, được truyền sang Trung Hoa và một số nước phương Tây như Anh, Pháp, Mỹ... Thơ Haiku tiếng Nhật thường là một dòng với khoảng 17 âm tiết. Khi phiên âm sang Latinh, được tách thành 3 dòng: dòng đầu 5 tiếng, dòng thứ hai 7 tiếng và dòng thứ ba 5 tiếng (5-7-5); tuy nhiên, số chữ trong một bài cũng không bị hạn chế quá khắt khe, tùy vào cảm xúc của người làm thơ.
Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn (Tiếp theo)
31. Về Thơ Bậc Thang
Đúng như tên gọi, cấu trúc “bậc thang” tạo ra hiệu ứng thị giác mạnh mẽ. Đây không đơn thuần là cách ngắt dòng ngẫu nhiên mà là sự điều hướng hình ảnh. Khi đọc, mắt chúng ta buộc phải “bước” từng bậc, tạo ra những khoảng lặng cần thiết để nhấn mạnh vào từng từ, từng ý, từ đó tăng cường sức mạnh biểu đạt.
Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026
Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn (Tiếp theo)
30. Thơ xướng họa (phần này chỉ giới thiệu những điểm chính):
Trong lúc trà dư tửu hậu, khi hứng thú, người làm thơ xướng lên bài tứ tuyệt, bài thất ngôn bát cú hoặc một bài theo thể thơ khác, rồi mời bạn thơ họa lại ngay bên mâm tiệc cho cuộc rượu thêm vui, thêm đậm đà ý vị. Thơ xướng họa thường lấy một sự kiện nào đó làm đề tài, cũng có khi vì đọc một bài thơ của bạn bè thấy tâm đắc mà đem họa lại.
Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026
Giới Thiệu Luật Thơ, Các Thể Thơ, Cách Làm Thơ
29. Thơ tự do: Khi mới xuất hiện, có người chê là “thơ buông”. Thơ tự do thuộc dòng thơ Mới (1932 - 1945). Trước đó, thi sĩ Tản Đà từng cách tân trong một số bài thơ của mình theo lối thơ tự do (thơ Mới), như bài: “Cảm thu - Tiễn thu”. Ngay dưới đầu đề bài thơ, Tản Đà ghi: “Tháng chín năm Canh Thân - 1920”.
Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn (phần tiếp)
28. Thể Phú:
Phú hành văn khác với thơ. Phú có 2 thể: cổ phú
và Đường phú.
1). Cổ phú: Có vần và không đối nhau, như một bài ca dài hay là bài văn xuôi có vần
không đối nhau, không hành xích gì rối rắm.
2). Đường phú: Đường phú có vần và đối nhau. Cách gieo vần cũng như thơ, có cả hạn vận
và phóng vận. Mở đầu bái phú là hai câu, mỗi câu 4 tiếng theo lối bình đối:
“Vườn hoa rắc
gấm
Giặng liễu buông mành”
Hai câu mỗi câu 4 tiếng đối nhau gọi là bát tứ. Hai câu đối nhau mỗi câu 5 tiếng trở lên gọi là song quan (hai câu cửa), hai câu làm một vế trên đối với hai câu vế dước gọi là cách cú (cách một câu mới đối). Ba bốn câu làm một vế trên, đối với dưới cũng ba bốn câu, gọi là hạc tất (gối đầu con hạc).
Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026
Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ (tiếp theo)
23. Thể thơ
Yết Hậu:
Yết hậu: là tiếng cuối của bài thơ bao giờ cũng như một tiếng kêu, tạo sự bất
ngờ. Thơ Yết Hậu thường làm để mua vui, giải tỏa nỗi buồn, hoặc để giễu cợt,
châm biếm.
Ví dụ:
“Sống ở dương gian đánh chén nhè,
Chết xuống âm phủ cắp kè kè.
Diêm Vương phán hỏi rằng: chi đó?
Be!”.
(Phạm Thái, 1776–1813)
Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026
Giới thiệu các Luật thơ, thể thơ, cách làm thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn (Tiếp theo)
22. Thể thơ Tứ tuyệt:
Đúng ra tên gọi trong thi pháp Trung Hoa là thơ Tuyệt
cú (ngắt lấy 4 câu từ bài Đường luật). Tên gọi Tứ
tuyệt phổ biến tại Việt Nam do nhà văn hóa Phan Kế Bính viết trong cuốn Hán Việt văn khảo. Khái niệm này dễ hiểu hơn nên đã đi vào
tâm thức người làm thơ và người thưởng thức thơ Việt Nam.
Điều thi vị nhất của thể thơ này chính là sự linh hoạt trong đối liên. Dù chỉ có 20 câu hoặc 28 chữ, nhưng nếu người làm thơ biết cách tận dụng cấu trúc Khai - Thừa - Chuyển - Hợp, bài thơ sẽ tạo ra một sức nén cảm xúc rất lớn, đặc biệt là ở câu “Chuyển” (câu 3) trước khi kết thúc trọn vẹn ở câu “Hợp”.
Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ (tiếp theo)
21. Thể thơ Đường luật:
Thơ Đường luật xuất hiện vào đời nhà Đường bên Trung
Quốc (620 - 905). Đường luật là thể thơ có vần, đối nhau và hạn định bằng trắc
trong thơ rất chặt chẽ. Bằng trắc phải theo đúng luật, sai là thất luật.
Khởi luật: Tiếng thứ 2 câu đầu gieo vần bằng thì bài thơ đó là luật bằng; tiếng thứ 2 gieo vần trắc thì bài thơ đó là luật trắc. Quy tắc bằng trắc cụ thể như sau:
Thứ Hai, 23 tháng 3, 2026
Giới thiệu các Luật thơ, thể thơ, cách làm thơ (Tiếp theo)
1. Định nghĩa:
Là thể thơ cách luật của Việt Nam với những đặc điểm như sau: Hai câu trên đều
7 tiếng (song thất), hai câu dưới là một câu lục (6
tiếng) và một câu bát (8 tiếng). Mỗi khổ gồm 4 câu, cứ thế
theo trình tự diễn đạt cho đến hết ý.
Ví dụ điển hình: Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã dịch tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra thể thơ STLB rất tài hoa. Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều hay Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân đều được sáng tác bằng thể thơ STLB rất thành công trong nền văn học cổ điển Việt Nam.
Giới Thiệu Luật Thơ, Các Thể Thơ, Cách Làm Thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn (Tiếp theo)
Thể Thơ Lục Bát (phần tiếp theo)
Bài thơ “Lời ru với anh” theo thể lục bát khác lạ xuất hiện vào khoảng năm 1969 – 1971, được Lý Phương Liên sáng tác theo lối lục bát biến thể. Câu thứ nhất đến câu thứ tư đều đúng thể lục bát. Sang câu thứ năm, dù đủ chữ nhưng thiếu ý; tác giả không thêm tiếng trực tiếp vào câu như ca dao xưa mà ngắt thành ba câu, mỗi câu bốn tiếng: “Xòe ra / là gặp / Chim bằng trời biếc / Chim bằng con trai”.
Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2026
Giới thiệu các Luật thơ, thể thơ, cách làm thơ (Tiếp theo)
17. Thể thơ Lục bát:
Lục bát là thể thơ dân gian của dân tộc ta, có âm điệu “trên 6 dưới 8”. Bắt đầu
bằng câu 6 tiếng (câu lục), tiếp là câu 8 tiếng (câu bát), cứ thế diễn đạt cho
đến hết ý.
Quy luật gieo vần:
Bao giờ cũng khởi đầu bằng vần Bằng: Tiếng thứ 6 của câu lục phải là thanh
Bằng.
Giới thiệu các Luật thơ, thể thơ, cách làm thơ- Hoàng Xuân Họa biên soạn (Tiếp theo)
13. Chơi chữ trong dân gian:
“Bà già đi chợ Cầu Đông,
Muốn xem quẻ bói lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi mà răng chẳng còn”.
(Ca dao)
Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2026
Giới thiệu các Luật thơ, thể thơ, cách làm thơ (Tiếp theo)
12. Chơi chữ trong dân gian:
“Bà già đi chợ Cầu Đông,
Muốn xem quẻ bói lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi mà răng chẳng còn”.
(Ca dao)
Giới thiệu các Luật thơ, thể thơ, cách làm thơ -- Hoàng Xuân Họa biên soạn (tiếp theo)
9. Cách đối âm trong thơ,
phú
Phép đối, nói chung là bằng - trắc đối nhau sóng đôi cho tương xứng. Đối âm và đối
tiếng: đối âm là âm bằng (b) đối với âm trắc (tr) hoặc ngược lại.
Ví dụ:
- “Trời” (b) đối với “đất” (tr).
- “Béo” (tr) đối với “gầy” (b).
- “Ăn” (b) đối với “nói” (tr).
- “Đi” (b) đối với “đứng” (tr).
- “Đất thấp” (tr) đối với “trời cao” (b).
Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026
Giới thiệu các Luật thơ, thể thơ, cách làm thơ (Tiếp theo)
5. Phương pháp sóng đôi trong thơ
Sóng đôi được dùng trong thơ để tạo mối tương tác giữa ngữ và nghĩa, tạo sự dồn dập, tạo hình ảnh nổi bật, làm phong phú câu thơ, đoạn thơ, giúp người nghe dễ nhớ, dễ thuộc:
Giới Thiệu Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn (tiếp theo)
3. Láy từ trong thơ
Trong ngôn ngữ tự nhiên, các loài vật, đồ vật đọc lên
đã có sự láy từ như tên gọi để mô phỏng âm thanh hoặc những vật cụ thể nhìn
thấy, nghe thấy.
Định nghĩa:
“Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy,
đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức của âm tiết (với những
thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh
điệu, biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao gồm thanh sắc, hỏi, ngang và nhóm thấp gồm thanh huyền,
ngã, nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa...”
(Theo Đỗ Hữu Châu)
