Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

Giới thiệu các Luật thơ thể thơ cách làm thơ


                              Hoàng Xuân Họa

                                 (biên soạn)

 

                     Bản thảo NXB duyệt, in 2004

                         Do tác giả giữ bản quyền

 

 

                            LỜI NHÀ XUẤT BẢN

 

Rằm tháng Giêng năm Quý Mùi, Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp với Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội đã tổ chức thành công Ngày thơ Việt Nam tại Trung tâm Văn hóa - Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Lá cờ thơ thiêng liêng cũng được tạo từ ngày đó với hình chim Lạc sải cánh bay quấn quýt cùng chữ “Thơ” giữa nền cờ ngũ sắc cổ truyền, được kéo lên trước nhà Thái Miếu trong hương xuân tươi nồng, trên bầu trời lồng lộng với sự chứng kiến của hàng ngàn người yêu thơ.

Cũng ngày đó, tại các tỉnh, thành phố trong cả nước từ Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ… cho tới Đất Mũi Cà Mau đều diễn ra những hoạt động sôi nổi, phong phú dành cho thơ và người yêu thơ. Cũng từ đó, làng báo có thêm tờ Báo Thơ (phụ bản của Báo Văn nghệ) được bạn đọc và người yêu thơ cả nước đón đợi, hoan nghênh.

Sự kiện này chứng tỏ, trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, thơ luôn có vị trí cao sang và rất được trọng thị. Để giúp người làm thơ và người yêu thơ tham khảo về các luật thơ, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn “Giới thiệu các luật thơ, thể thơ, cách làm thơ” của tác giả Hoàng Xuân Họa. Rất mong các ý kiến đóng góp, xây dựng của bạn đọc gần xa để lần tái bản sau được tốt hơn.

 

                                        Hà Nội, tháng 6 năm 2004
                             NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA DÂN TỘC

 

                                      Phần I

 

1. Về ngữ âm tiếng Việt

Với tính đặc biệt của ngữ âm tiếng Việt, từ tên gọi con người, tên chỉ đồ vật, các loài vật, đến những từ chỉ thiên nhiên như: trăng, sao, gió, nước, mây trời... khi nói thành lời, tự thân những âm ngữ ấy đã luyến láy nên những vần điệu du dương, êm ái. Người làm thơ chỉ cần sắp xếp theo ý mình là thành những bài thơ dài ngắn theo các thể thơ truyền thống, hoặc niêm luật bó buộc như thơ luật Đường, để bày tỏ mọi biểu hiện tâm trạng của cuộc sống con người. Đó gọi là các thanh bằng, thanh trắc và các từ ngữ.

 

Thanh bằng và thanh trắc:

- Bằng (B): Là những tiếng có thanh trầm như những tiếng “Đoản bình thanh” (tiếng không có dấu), hay có thanh thấp mà dài như tiếng “Trường bình thanh” (tiếng có dấu huyền).

-Trắc (T): Là những tiếng có thanh cao, bao gồm: “Tượng thanh” (có dấu sắc), “Hồi thanh” (có dấu hỏi), “Khứ thanh” (có dấu ngã) và “Hạ thanh” (có dấu nặng).

Thanh bằng có thể biến hóa ra đủ 6 thanh, tức là 2 thanh bằng và 4 thanh trắc.

Ví dụ:

Vần Bằng:

- Đang (Đoản bình thanh) - không dấu.

- Đàng (Trường bình thanh) - dấu huyền.

 

Vần Trắc:

1.      Đáng (Dấu Sắc): Tượng thanh (âm cao, gắt).

2.      Đảng (Dấu Hỏi): Hồi thanh (âm cao, xuống rồi lên).

3.      Đãng (Dấu Ngã): Khứ thanh (bậc cao, có độ rung).

4.      Đạng (Dấu Nặng): Hạ thanh (âm thấp, ngắt đột ngột).

 

Về vần Quốc ngữ: Có vần chính và vần thông.

Vần chính:
Vần chính là những tiếng đồng âm (có phần vần giống hệt nhau) như: 
anh, oanh, inh, uynh; phu, thu, xu; phù, thù, xù...

 - Vần Trắc: Thế, thể, thễ, hệ; lí, lỉ, lĩ, lị; bó, bỏ, bõ, bọ; báng, bảng, bãng bạng...

Vần thông:
Vần thông là những tiếng có phần vần gần giống nhau (phát âm tương tự), cùng thanh Bằng hoặc cùng thanh Trắc, ví dụ:

Vần thông thanh Bằng: xanh - xinh, đông - tây (tùy ngữ cảnh gieo vần), thư - thơ, thâm - thầm...

2. Gieo vần trong thơ

Vần là phương thức lặp lại các âm tiết có cấu tạo giống hoặc gần giống nhau trong câu thơ, nhằm tạo ra nhịp điệu, tăng sức gợi cảm, giúp lời thơ êm tai, dễ nhớ và dễ thuộc.

Vần được phân biệt theo từng vị trí và tính chất, bao gồm: vần chínhvần chânvần lưng và vần thông. Vần có chức năng tách biệt từng dòng thơ, đồng thời liên kết giữa câu trước với câu sau để tạo âm hưởng và nhạc điệu. Điều này không chỉ giúp bài thơ có sự kết nối chặt chẽ mà còn làm nổi bật ý nghĩa của từng câu thơ, đoạn thơ.

 

Vần chính

Vần chính là sự phối hợp âm thanh ở mức độ cao giữa các tiếng được gieo vần, trong đó những âm cuối câu giống hệt nhau. Riêng các từ đầu câu, nếu muốn gieo vần (vần thủ) thì rất khó và hiếm người thực hiện thành công. Về vần thủ chúng tôi sẽ bàn ở cuối bài.

 

Vần chính

Trong thơ 7 chữ:

 

Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
”.
           (Hồ Chí Minh - Cảnh khuya)

 

Trong thơ lục bát:

Khuyên nhau chín bỏ làm mười

Ra đường chỉ gặp nụ cười nửa môi

Thánh thần ăn thịt ăn xôi

Còn nồi cháo thí dân ngồi chia nhau

 

Tội thân ba vị đầu rau

Đội nồi nước xuýt đục ngầu nhìn suông

Làng tôi cà pháo dầm tương

Vẫn vui như Tết!... Nghĩ thương cái làng!”.

                           (Hoàng Xuân Họa - Làng Tôi)

 

Các thể thơ khác:

 “Chiều Phan Rang xanh - đau ngọc nát
Nắng Chiêm Thành quanh quất tháp hoang
Hốc đá mỏi mưa - Hời nát giọt
Hoa văn Chàm thơm - khẽ trăng suông....
                                  (Phùng Cung)

 

Một thoáng nắng hồ mưa ảo phố
Mini hồng mây rằn lửa khăn bay

Tàu điện đỏ đáy hồ chuông tuổi nhỏ
Ngã tư may đường chuyện cổ mơ ngày....
                                            (Lê Đạt)

 

 “Cái vớ vẩn lục tìm sao thấy
Anh ngủ vùi lời hứa bình minh
Trễ hẹn đưa em đi trẩy hội
Làm sao khoe áo cưới giữa vườn tình?...”.
                         (Nguyễn Nguyên Bảy)

 

Hãy cất đi nơi ánh mắt của em
Cái tia chớp bàng hoàng ghê gớm ấy
Biển phút lặng mong đừng khơi sóng dậy
Chấm buồm xa đâu phải đã bình yên....
                                       (Tô Hà)

 

Vần chân (cước vận): Vần chân được gieo ở cuối câu thơ với tác dụng kết thúc câu thơ, tạo mối liên kết các dòng thơ với nhau. Vần chân rất đa dạng: lúc liên tục, khi gián cách, lúc ôm nhau, khi hỗn hợp. Có những bài thơ, khổ thơ nhiều tác giả gieo được cả vần trắc, vần bằng với âm hưởng liên tục.

 

Vần liên tục (Vần liền)

Ví dụ 1:

Lại nảy nòi ra họ chích choè
Quan thì án sát, đỗ ông nghè
Áo xiêm đủng đỉnh coi ra vẻ
Cờ bạc rong chơi đủ ngón nghề
...”
                        (Nguyễn Thiện Kế)

 

Ví dụ 2:

Mỗi khi mưa ngớt, cơn giông qua
Xắn áo ra vườn ta lượm hoa
Những cánh vô duyên theo gió 
Vừa cười vừa khóc, ta chôn hoa
...”.
                         (Hàn Mặc Tử)

 

Ví dụ 3:

Thôi em đi nhé em vui mãi
Anh muốn em sung sướng suốt đời
Xa nhau hẹn ngày mai gặp lại
Nhìn nhau thấy đã lớn hơn rồ
i...”.
                         (Nguyễn Đình Thi)

Gieo vần trắc, xen kẽ vần liên tục

Vần trắc thường tạo cảm giác trúc trắc, mạnh mẽ hoặc mang tâm trạng uất nghẹn, dồn nén. Khác với vần bằng (êm ái), vần trắc đòi hỏi sự phối hợp thanh điệu khéo léo để bài thơ không bị “gãy” nhịp.

Dưới đây là một bài mẫu 7 chữ gieo vần trắc liên tục (vần liên theo cặp):

 

Ví dụ 4 (toàn vần trắc):

Nắng cháy thiêu khô dòng nước cạn (Trắc - v1)
Đất nứt chân chim sầu hạn hán (Trắc - v1)
Cánh chim mỏi mệt tìm nơi trú (Trắc - v2)
Rừng thưa lá rụng nằm ủ 
” (Trắc - v2)

 

Ví dụ 5 (xen kẽ vần trắc với vần liên tục:

Chùa lấp sau rừng cây
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa ta thấy
Hơn một trăm ăn mày
...”.
        (Nguyễn Nhược Pháp)

 

Ví dụ 6:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi...”.
                             (Quang Dũng)

 

Ví dụ 6:

“Em vác cuốc thăm đồng
Lúa sây hạt nặng bông
Thấy vui vui trong lòng
Em mong ngày toàn thắng...”.
                      (Trần Hữu Thung)

 

Vần gián cách (Vần cách)

Ví dụ 1:

“Trời xanh thế! Hàng cây thơ biết mấy!
Vườn non sao! Đường cỏ mộng bao nhiêu
Khi Phạm Thái gặp Quỳnh Như thuở ấy
Khi chàng Kim vừa được thấy nàng Kiều...”.
                                             (Xuân Diệu)

 

Ví dụ 2:

“Anh đọc truyện em nghe
Em muốn làm cô “Tấm
Lòng hoàng tử anh mê
Từ buổi đầu em lấm...”.
                         (Yến Lan)

 

Ví dụ 3:

“Anh xa em như đất liền xa cách bể
Nửa đêm sâu nằm lắng sóng phương em
Em thân thuộc sao thành xa lạ thế
Sắp gặp em rồi sóng lại đẩy xa thêm...”.
                                      (Chế Lan Viên)

 

 Vần liên tiếp:

“Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa

Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm

Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi đắng cay...
”.

(Trần Đăng Khoa - Hạt gạo làng ta)

 

Mặt trời lặn xuống biển
Như hòn lửa chói chang
Sóng đã cài then cửa
Đêm sập cửa cùng vàng
”.
           (Huy Cận - Đoàn thuyền đánh cá)

 

Vừa chẵn mười xuân tôi vui với lão
Nhờ cây bút anh một phút nhập thần
A! Râu tóc hát cùng khăn áo
A! Quạt gậy múa cùng tay chân
...”.
                              (Trần Lê Văn)

 

 Vần ôm

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân
Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần
Tôi nói khẽ: Ôi, làm sao nhớ thế
!”.
                                 (Hồ Dzếnh)

 

Sương giăng mờ trên ngõ tạm thương
Ngõ rất cụt mà lòng xa thẳm
Ngõ bảy thước mà lòng muôn dặm
Thương một đời đâu phải tạm thương
...”.
                                  (Chế Lan Viên)

 

 Vần hỗn hợp

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng...
Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại.
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong
."
                                 (Thâm Tâm)

 

Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi
Và rung động đã bừng trên nét mặt
Một rạng đông với màu hồng ngọc
Cây si xanh gọi họ đến ngồi trong
Bóng rợp của mình, nói tới ngày mai
.”
                                    (Nguyễn Mỹ)

Vần lưng (Yêu vận)

Là vần được gieo ở giữa câu thơ.

 

Trong thơ Song thất lục bát:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai
?...”.

   (Đoàn Thị Điểm - Chinh Phụ Ngâm)

 

Nỗi bèo nước đã thôi thời thế
Tình cỏ sương khôn dễ mà khuây
Phòng văn trở lại gót giày
Chén tương tư rót cho đầy lại vơi
...”.
                                  (Tản Đà)

 

Trong thơ tự do:

Này hoa ngọc đã giật mình trắng muốt
Thoáng lay mình gió vuốt bỗng lao đao
.”
                                         (Xuân Diệu)

Tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy
Thì gian nan gấp mấy cũng lên đường
...”.
                                (Bùi Minh Quốc)

Đường nắng thương áo ong lưng chành sóng
Em bận lấy chồng gửi bóng anh chăm
...”.
                                             (Lê Đạt)

 

Trong thơ lục bát:

Đêm qua dưới bến xuôi đò
Thương nhau qua cửa tò nhìn nhau.
Anh đi đâu, anh về đâu?
Cánh buồm nâu... cánh buồm nâu... cánh buồm
...”.
                                                 (Nguyễn Bính)

Có thể gieo vần lưng ở tiếng thứ 4 của câu Bát

Thông thường câu bát gieo vần ở tiếng thứ 6, nhưng các trường hợp dưới đây là biến thể gieo ở tiếng thứ 4:

Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời không thấy người thương
...”.
                                             (Ca dao)

Hà Nội băm sáu phố phường
Hàng Gạo, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh
...”.
                                              (Ca dao)

Thấy anh em cũng muốn theo
Em sợ anh nghèo, anh bán em đi
Lấy anh em biết ăn ?
Lộc sắn thì chát, lộc si thì gi
à...”.
                                (Ca dao)

Vần thông

Là một loại vần được phối hợp các âm thanh gần giống nhau (cùng nhóm âm tiết), không nhất thiết phải trùng hoàn toàn phần vần.

 

Đồng vần trắc:

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
...”.
                                  (Chính Hữu)

Chỉ lá rụng dạt dào trên mái phố
Dẫu em biết rằng anh, anh cũng nhớ
...”.
                                  (Xuân Quỳnh)

Đồng vần bằng:

Tôi cũng trông thấy người tôi yêu
Ngồi cạnh suối trong cởi yếm đào
...”.
                              (Hàn Mặc Tử)

Tiếng gió lùa qua thức mộng chim
Phá tan hương khói giấc êm đềm
...”.
                                     (Vân Đài)

Hồng chưa hồng lắm xanh còn xanh
Mỗi đoạn đường qua, lại ngắm mình
Yêu lắm, chút nắng chiều ngả phố
Tóc thơ trên hai mái, bồng bềnh
."

                               (Khuyết danh)

Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong
...”.

                               (Xuân Quỳnh)

Trôi đi thuyền! Cứ trôi đi xa nữa!
Vỗ giăng khuya bơi mãi! Cánh chèo !
Lòng ta là những hàng thành quách 
Tự ngàn năm bỗng vắng tiếng loa xưa
...”.
                                    (Vũ Đình Liên)

Vần thủ

Là vần gieo ở ngay đầu câu, một thử thách cực khó trong thi pháp. Nó đòi hỏi người viết phải có vốn từ vựng cực kỳ phong phú để vừa đảm bảo âm điệu trùng khớp hoàn toàn, vừa giữ cho nội dung không bị khiên cưỡng.

Để thực hiện thành công một bài thơ vần thủ mà không bị “khiên cưỡng” hay “từ”, người viết thường phải đối mặt với 3 thách thức lớn:

1). Tính nhất quán của âm tiết: Các chữ đầu câu phải có phần vần giống hệt nhau (vần chính). Nếu chỉ dùng vần thông (gần giống), bài thơ sẽ mất đi sự sắc sảo vốn có của thể loại này.

2). Sức nặng của nội dung: Vì chữ đầu câu lặp lại về âm, nên nếu các chữ tiếp theo không đủ “mạnh” để triển khai ý mới, bài thơ dễ rơi vào tình trạng lặp ý, sáo rỗng.

3). Logic trào phúng: Trong thơ trào phúng, vần thủ đóng vai trò như một nhịp gõ đều đặn để “tố cáo” hoặc “mỉa mai”. Nếu không khéo léo, sự lặp lại này sẽ làm bài thơ trở nên ngây ngô thay vì sắc bén.

Dưới đây là một ví dụ về vần thủ (vần “Ông”) được dùng để trào phúng sự hống hách:

Ông ngồi nghểnh ngóng, tưởng mình cao
Ông cậy quyền uy, bước tự hào
Ông tưởng dân ngu, vơ vét sạch
Ông chờ quả báo, rớt xuống ao
”.

                      (Nhà yêu nước Trần Cao Vân)

Bài thơ trên sử dụng từ “Ông” không chỉ để gieo vần mà còn để nhấn mạnh cái tôi quá lớn của đối tượng bị châm biếm, tạo nên một hiệu ứng cộng hưởng rất tốt.

 

Ví dụ 2:

Ao ước làm quan để hưởng giàu
Ao tù nước đọng mặc dân đau
Ao nhà cá lặn quên thề cũ
Ao hãm lòng tham, bạc trắng đầu
”.

An phận thủ thường, chẳng chịu làm
An nhàn quá độ đâm ra tham
An nguy mặc kệ, ngồi mong lộc
An hưởng hão huyền, chuyện nực cam
”.

                                                   (Thủ khoa Huân) 

XEM BÀI SAU TRANG CHỦ