Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

Giới thiệu các Luật thơ, thể thơ, cách làm thơ (Tiếp theo)

              

5. Phương pháp sóng đôi trong thơ

Sóng đôi được dùng trong thơ để tạo mối tương tác giữa ngữ và nghĩa, tạo sự dồn dập, tạo hình ảnh nổi bật, làm phong phú câu thơ, đoạn thơ, giúp người nghe dễ nhớ, dễ thuộc:

Trời trong veo
Nước trong veo
Em buông mái chèo
Trên dòng Hương Giang
...”.
                          (Tố Hữu)

Cuộc đời vẫn đẹp sao
Tình yêu vẫn đẹp sao
Dù đạn bom man rợ thét gào...

Một tiếng chim ngân
Một làn gió biển...

Thức dậy bao điều mới mẻ trong em
Thức dậy bao điều cao quý trong em
...”.
(Dương Hương Ly, tức Bùi Minh Quốc)

 

Nhưng tôi biết, cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi,
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người
!...”.
                                        (Nguyễn Mỹ)

 

6. Đảo ngữ trong thơ

Vũ Từ Trang gọi đây là “cách nói ngược”. Đảo ngữ là sự cố ý, có chủ định viết “lỗi” văn phạm (kiểu như thợ dệt làng Vạn Phúc cố ý dệt lỗi sợi vải để tạo hoa văn trên những tấm lụa Hà Đông), vi phạm trật tự chuẩn mực của các đơn vị ngữ pháp trong câu để tạo đường nét, màu sắc, hình ảnh; nhằm nhấn mạnh hoặc thể hiện sắc thái biểu cảm. Mục đích thường là: một để bắt vần; hai để gây ấn tượng; ba là chịu ảnh hưởng của Hán văn.

Ví dụ:

Cái gái đời nay, gái mới ngoan
Quyết lòng ẩu chiến với Tây quan
...”.
                                (Nguyễn Khuyến)
(Chữ “Tây” là định ngữ cho chữ “quan” nên Nguyễn Khuyến đặt trước).

Một số ví dụ khác về đảo ngữ trong thơ Việt Nam từ 1945 đến nay:

 

Quang Dũng:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy...

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi...”.


Nguyễn Thanh Kim:

Dòng đời lệ chảy mang mang

Chống chèo tay trắng vẫn hoàn trắng tay...”.

 

Lưu Quang Vũ:

Bàn tay ấy chở che và gìn giữ

Biết ơn em, ta từ miền cát gió...

Nơi đêm khuya vọng lại tiếng còi tàu

Bỗng nhớ xa xôi những miền đất nước...

Dưa hấu bổ ra thơm suốt ngày dài

Em cũng mát lành như trái cây mùa hạ...”.

 

Thu Bồn:

Mẹ thường khen hàm răng con đẹp

 Hé môi cười ánh sáng cười theo.

Tóc bới, tai căng, tay vòng lấp lánh

Con đi theo hướng mặt trời...”.

 

Tế Hanh:

“Cay đắng ngọt bùi cuộc đời kháng chiến

Nói sao hết em ơi bao kỷ niệm...”.

 

Nguyễn Hữu Quý:

Chưa biết hẹn cùng ai, lòng đã núi

 Mới Pha Đin đã bối rối Điện Biên rồi

 Qua chót vót đỉnh rừng, thăm thẳm núi

Mây che mùa chiến dịch vẫn còn bay...”.

Thông thường, cấu trúc câu lập ý/gieo vần trong tiếng Việt sẽ là Động từ + Danh từ (Hành động tác động lên vật tả). Tuy nhiên, tác giả đã đảo lại thành Danh từ + Động từ/Tính từ.

 

Quang Dũng có cách nói ngược (đảo ngữ) rất duyên và tạo ra một phong cách rất riêng. Ví dụ:

Gió mùa chết héo mạ non xanh
(Lẽ ra, nếu nói thuận thì là: Mạ non chết héo vì gió mùa)

Sương muối thấm vào bao đạn ướt
(Nếu nói thuận thì là: Bao đạn thấm ướt vì sương muối)

Tiếng hát dân quân đầu vọng gác
(Nếu nói thuận thì là: Đầu vọng gác vang tiếng hát của dân quân).

Cách viết của ông đã ảnh hưởng nhiều đến thế hệ trẻ. Nhiều người đã học tập và bắt chước cách viết của ông.
(Vũ Từ Trang, Báo Người Hà Nội số 41, ngày 10/10/2003)

 

Nhân đây, xin nêu lại câu thơ gây tranh luận trong bài “Cảnh Thu” của Bà Huyện Thanh Quan: “Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ”. Việc người đời sửa “lưng” thành “nghiêng”, “lèn” hay giải thích là túi đeo sau lưng... thực chất đều không cần thiết. Câu thơ này chỉ đơn giản sử dụng biện pháp đảo ngữ, tương tự cụm từ “Đề huề lưng túi gió trăng” của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Việc đảo ngữ giúp bà tránh lỗi đạo văn, và những tranh luận kéo dài qua nhiều thập kỷ là không cần thiết.

7. Phương pháp đối lập trong thơ

Một khi không gieo nổi vần, có thể dùng phương pháp đối lập tiếng, đối lập vần, đối lập địa danh để tạo âm hưởng. Chế Lan Viên thường dùng phương pháp này:

a. Đối lập từng cặp tiếng:

Sợ nhất khi xuống địa phủ, bên vạc dầu của quỷ
Lại thi nhân cùng thi nhân chạm trán, va đầu...

Sao làm thơ không có nghề như thợ nhỉ?
Nghề đếm lá, nghề trồng sao, nghề tát bể
...”.
                                           (Chế Lan Viên)

Ta lại gặp những mặt người ta yêu biết mấy
Ta nhìn, ta ngắm, ta say
Ta run run nắm những bàn tay
Thương nhớ dồn trong tay ta nóng bỏng
...”.

b. Đối vần + đối lập trạng thái và hình ảnh:

Trăng viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ
Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau
...”.
                                           (Hoàng Hữu)

Ở hai câu thơ trên, Hoàng Hữu đã mượn cái tròn trịa của thực tại (trăng viên mãn) để nhắc nhớ về những khuyết thiếu, thăng trầm đã từng trải qua cùng nhau (trăng khuất nửa).

Tôi đứng nhìn em đi giữa sớm mai
Chiếc áo mưa xanh
lên màu trời rộng
Em đi khuất rồi tôi còn đứng lặng
Chiếc hôn đêm qua vẫn nóng bồi hồi
...”.
                                    (Vũ Quốc Ái)

Tác giả Vũ Quốc Ái đã sử dụng vần cách và vần liền để tạo sự kết nối, hài hòa cho cảm xúc.

Cụ thể về phần vần:

 - Vần “mai” – “hồi”: Đây là sự tương quan về âm hưởng (cùng là âm kết thúc mở), tạo cảm giác dư ba, vương vấn.

- Vần “rộng” - “lặng”: Cùng là vần thông (vần có âm cuối tương tự nhau), tạo nhịp điệu trầm lắng, suy tư.

Khổ thơ có sự “đối lập” về Trạng thái, Hình ảnh.

Dù không đối lập về vần, nhưng tác giả xây dựng những cặp đối lập rất tinh tế để nhấn mạnh tình cảm: Động đối lập với Tĩnh.

1). Em đi: Hình ảnh vận động, rời xa, tan biến vào “màu trời rộng”.

2). Tôi đứng nhìn/ tôi đứng lặng: Hình ảnh bất động, ngưng trệ của nhân vật trữ tình.

3). Cái hiện hữu đối lập với Cái vô hình: Chiếc áo mưa xanh: Một vật hữu hình, cụ thể giữa ban ngày (sớm mai).

4). Chiếc hôn đêm qua: Một kỷ niệm vô hình, trừu tượng nhưng lại “vẫn nóng bỏng” (một cảm giác xúc giác mạnh mẽ).

Bữa ấy chúng ta chưa hình dung được
Ngay khúc sông đây lại có cây cầu
Sông rộng mênh mông con đò lá lúa
Ta thương con đò như ta thương nhau
...”.
                              (Vũ Quần Phương)

c. Đối lập địa danh:

Sống quang vinh mà chết cũng quang vinh.
Của Bãi Sậy, Thái NguyênYên Bái.
Là thi sĩ nghĩa là theo gió mới
Tìm ý thơ trên ngọn sóng Bạch Đằng,
Để tâm hồn dào dạt với Chi Lăng,
Làm bất tử trận Đống Đa oanh liệt
...”.
                                     (Sóng Hồng)

Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài...”.

                        (Hoàng Cầm)

 

8. Phản ngữ trong thơ

Trong thơ dùng phản ngữ để châm biếm một sự việc, để so sánh một vấn đề, để đối lập màu sắc, để nói khác nhau nhằm làm nổi bật đối tượng miêu tả:

bát sứ tình phụ bát đàn
Nâng niu bát sứ vỡ tan có ngày...”.

“Xin đừng thấy quế phụ hương
Quế già quế rụi hương trường thơm xa
...”
                                             (Ca dao)

Đã năm mươi cái xuân xanh
Khi ông, khi chú, khi anh, khi thằng
Ngẫm đời lắm cái lăng nhăng
Khi ông cưỡi chó, khi thằng cưỡi voi.
                               (Phan Huy, Cần Thơ)

Em hối lộ đóa hoa một nụ cười rượu chát
Anh tham ô trời đất mấy câu thơ.
..”.
                                   (Nguyễn Trọng Tạo)

Còn tiếp

XEM BÀI SAU TRANG CHỦ