5. Phương pháp sóng đôi trong thơ
Sóng đôi được dùng trong thơ để tạo mối tương tác giữa ngữ và nghĩa, tạo sự dồn dập, tạo hình ảnh nổi bật, làm phong phú câu thơ, đoạn thơ, giúp người nghe dễ nhớ, dễ thuộc:
“Trời trong veo
Nước trong veo
Em buông mái chèo
Trên dòng Hương Giang...”.
(Tố Hữu)
“Cuộc
đời vẫn đẹp sao
Tình yêu vẫn đẹp sao
Dù đạn bom man rợ thét gào...
“Một tiếng
chim ngân
Một làn gió biển...
“Thức dậy bao điều mới mẻ trong em
Thức dậy bao điều cao quý trong em...”.
(Dương Hương Ly, tức Bùi Minh Quốc)
“Nhưng tôi biết, cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi,
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người!...”.
(Nguyễn Mỹ)
6. Đảo ngữ trong thơ
Vũ Từ Trang gọi đây là “cách nói ngược”. Đảo ngữ là sự cố ý, có chủ
định viết “lỗi” văn phạm (kiểu như thợ dệt làng Vạn Phúc cố ý dệt lỗi sợi vải
để tạo hoa văn trên những tấm lụa Hà Đông), vi phạm trật tự chuẩn mực của các
đơn vị ngữ pháp trong câu để tạo đường nét, màu sắc, hình ảnh; nhằm nhấn mạnh
hoặc thể hiện sắc thái biểu cảm. Mục đích thường là: một để bắt vần; hai để gây
ấn tượng; ba là chịu ảnh hưởng của Hán văn.
Ví dụ:
“Cái gái đời nay, gái
mới ngoan
Quyết lòng ẩu chiến với Tây
quan...”.
(Nguyễn Khuyến)
(Chữ “Tây” là định ngữ cho
chữ “quan” nên Nguyễn Khuyến đặt trước).
Một số ví dụ khác về đảo ngữ trong thơ Việt Nam từ 1945 đến nay:
Quang Dũng:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy...
“Mai Châu
mùa em thơm nếp xôi...”.
Nguyễn Thanh Kim:
“Dòng đời lệ
chảy mang mang
Chống chèo tay trắng vẫn hoàn trắng tay...”.
Lưu Quang Vũ:
“Bàn tay ấy chở che và gìn giữ
Biết ơn em, ta từ miền cát gió...
“Nơi đêm
khuya vọng lại tiếng còi tàu
Bỗng nhớ xa xôi những miền đất nước...
Dưa hấu bổ ra thơm suốt ngày dài
Em cũng mát lành như trái cây mùa hạ...”.
Thu Bồn:
“Mẹ thường
khen hàm răng con đẹp
Hé
môi cười ánh sáng cười theo.
Tóc bới, tai căng, tay vòng lấp
lánh
Con đi theo hướng mặt trời...”.
Tế Hanh:
“Cay đắng ngọt
bùi cuộc đời kháng chiến
Nói sao hết em
ơi bao kỷ niệm...”.
Nguyễn Hữu Quý:
“Chưa biết hẹn
cùng ai, lòng đã núi
Mới
Pha Đin đã bối rối Điện Biên rồi
Qua
chót vót đỉnh rừng, thăm thẳm núi
Mây che mùa chiến dịch vẫn còn bay...”.
Thông thường, cấu trúc câu lập ý/gieo vần trong tiếng Việt sẽ là Động từ + Danh từ (Hành
động tác động lên vật tả). Tuy nhiên, tác giả đã đảo lại thành Danh từ + Động từ/Tính từ.
Quang Dũng có cách nói ngược (đảo ngữ)
rất duyên và tạo ra một phong cách rất riêng. Ví dụ:
“Gió
mùa chết héo mạ non xanh”
(Lẽ ra, nếu nói thuận thì là: Mạ non chết héo vì gió mùa)
“Sương
muối thấm vào bao đạn ướt”
(Nếu nói thuận thì là: Bao đạn thấm ướt vì sương muối)
“Tiếng
hát dân quân đầu vọng gác”
(Nếu nói thuận thì là: Đầu vọng gác vang tiếng hát của dân quân).
Cách viết
của ông đã ảnh hưởng nhiều đến thế hệ trẻ. Nhiều người đã học tập và bắt
chước cách viết của ông.
(Vũ Từ Trang, Báo Người Hà Nội số 41,
ngày 10/10/2003)
Nhân đây,
xin nêu lại câu thơ gây tranh luận trong bài “Cảnh Thu” của Bà
Huyện Thanh Quan: “Túi
lưng phong nguyệt nặng vì thơ”. Việc người đời sửa “lưng” thành
“nghiêng”, “lèn” hay giải thích là túi đeo sau lưng... thực chất đều không cần
thiết. Câu thơ này chỉ đơn giản sử dụng biện pháp đảo ngữ, tương tự cụm
từ “Đề huề lưng túi gió trăng” của
Nguyễn Du trong Truyện Kiều.
Việc đảo ngữ giúp bà tránh lỗi đạo văn, và những tranh luận kéo dài qua nhiều
thập kỷ là không cần thiết.
7. Phương pháp đối lập trong thơ
Một khi không gieo nổi vần, có thể dùng phương pháp đối lập tiếng, đối lập
vần, đối lập địa danh để tạo âm hưởng. Chế Lan Viên thường dùng phương pháp
này:
a. Đối lập từng cặp tiếng:
“Sợ nhất khi xuống địa phủ, bên vạc dầu của
quỷ
Lại thi nhân cùng thi nhân chạm trán, va đầu...
“Sao làm thơ không có nghề như thợ nhỉ?
Nghề đếm lá, nghề trồng sao, nghề tát bể...”.
(Chế
Lan Viên)
“Ta lại gặp những mặt người ta yêu biết mấy
Ta
nhìn, ta ngắm, ta say
Ta run run nắm những bàn tay
Thương nhớ dồn trong tay ta nóng bỏng...”.
b. Đối vần + đối lập trạng thái và hình ảnh:
“Trăng
viên mãn cuối trời đêm đêm em có nhớ
Mặt trăng từng khuất nửa ở trong nhau...”.
(Hoàng Hữu)
Ở hai câu thơ trên, Hoàng Hữu đã mượn cái
tròn trịa của thực tại (trăng viên mãn) để nhắc nhớ về những khuyết thiếu,
thăng trầm đã từng trải qua cùng nhau (trăng khuất nửa).
“Tôi đứng nhìn em đi giữa sớm mai
Chiếc áo mưa xanh lên màu trời rộng
Em
đi khuất rồi tôi còn đứng lặng
Chiếc
hôn đêm qua vẫn nóng bồi hồi...”.
(Vũ Quốc
Ái)
Tác giả Vũ Quốc Ái đã sử dụng vần cách và vần liền để tạo sự kết nối, hài
hòa cho cảm xúc.
Cụ thể về phần vần:
- Vần “mai” – “hồi”: Đây là sự tương
quan về âm hưởng (cùng là âm kết thúc mở), tạo cảm giác dư ba, vương vấn.
- Vần “rộng” -
“lặng”: Cùng là vần thông (vần có âm cuối tương tự nhau), tạo nhịp điệu
trầm lắng, suy tư.
Khổ thơ có sự “đối lập” về Trạng
thái, Hình ảnh.
Dù không đối lập về vần, nhưng tác giả xây dựng những
cặp đối lập rất tinh tế để nhấn mạnh tình cảm: Động đối lập với Tĩnh.
1). Em đi: Hình ảnh vận động, rời xa, tan biến vào “màu trời rộng”.
2). Tôi đứng
nhìn/ tôi đứng lặng: Hình ảnh bất động, ngưng trệ của nhân vật trữ
tình.
3). Cái hiện
hữu đối lập với Cái vô hình: Chiếc
áo mưa xanh: Một vật hữu hình, cụ thể giữa ban ngày (sớm mai).
4). Chiếc hôn
đêm qua: Một kỷ niệm vô hình, trừu tượng nhưng lại “vẫn nóng bỏng”
(một cảm giác xúc giác mạnh mẽ).
“Bữa ấy chúng ta chưa hình dung được
Ngay khúc sông đây lại có cây cầu
Sông rộng mênh mông con đò lá lúa
Ta thương con đò như ta thương nhau...”.
(Vũ Quần Phương)
c. Đối lập địa danh:
“Sống quang vinh mà chết cũng quang vinh.
Của Bãi Sậy, Thái Nguyên và Yên Bái.
Là thi sĩ nghĩa là theo gió mới
Tìm ý thơ trên ngọn sóng Bạch Đằng,
Để tâm hồn dào dạt với Chi Lăng,
Làm bất tử trận Đống Đa oanh liệt...”.
(Sóng
Hồng)
“Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài...”.
(Hoàng Cầm)
8. Phản ngữ trong thơ
Trong thơ dùng phản ngữ để châm biếm một sự việc, để so sánh một vấn đề, để
đối lập màu sắc, để nói khác nhau nhằm làm nổi bật đối tượng miêu tả:
“Có bát
sứ tình phụ bát đàn
Nâng niu bát sứ vỡ tan có ngày...”.
“Xin đừng thấy quế phụ hương
Quế già quế rụi hương trường thơm xa...”
(Ca dao)
“Đã năm mươi cái xuân xanh
Khi
ông, khi chú, khi anh, khi thằng
Ngẫm đời lắm cái lăng nhăng
Khi ông cưỡi chó, khi thằng cưỡi
voi.
(Phan Huy, Cần
Thơ)
“Em
hối lộ đóa hoa một nụ cười rượu chát
Anh
tham ô trời đất mấy câu
thơ...”.
(Nguyễn
Trọng Tạo)
Còn tiếp
