29. Thơ tự do: Khi mới xuất hiện, có người chê là “thơ buông”. Thơ tự do thuộc dòng thơ Mới (1932 - 1945). Trước đó, thi sĩ Tản Đà từng cách tân trong một số bài thơ của mình theo lối thơ tự do (thơ Mới), như bài: “Cảm thu - Tiễn thu”. Ngay dưới đầu đề bài thơ, Tản Đà ghi: “Tháng chín năm Canh Thân - 1920”.
Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026
Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ - (phần tiếp)
28. Thể Phú:
Phú hành văn khác với thơ. Phú có 2 thể: cổ phú
và Đường phú.
1). Cổ phú: Có vần và không đối nhau, như một bài ca dài hay là bài văn xuôi có vần
không đối nhau, không hành xích gì rối rắm.
2). Đường phú: Đường phú có vần và đối nhau. Cách gieo vần cũng như thơ, có cả hạn vận
và phóng vận. Mở đầu bái phú là hai câu, mỗi câu 4 tiếng theo lối bình đối:
“Vườn hoa rắc
gấm
Giặng liễu buông mành”
Hai câu mỗi câu 4 tiếng đối nhau gọi là bát tứ. Hai câu đối nhau mỗi câu 5 tiếng trở lên gọi là song quan (hai câu cửa), hai câu làm một vế trên đối với hai câu vế dước gọi là cách cú (cách một câu mới đối). Ba bốn câu làm một vế trên, đối với dưới cũng ba bốn câu, gọi là hạc tất (gối đầu con hạc).
Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026
Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ (tiếp theo)
23. Thể thơ
Yết Hậu:
Yết hậu: là tiếng cuối của bài thơ bao giờ cũng như một tiếng kêu, tạo sự bất
ngờ. Thơ Yết Hậu thường làm để mua vui, giải tỏa nỗi buồn, hoặc để giễu cợt,
châm biếm.
Ví dụ:
“Sống ở dương gian đánh chén nhè,
Chết xuống âm phủ cắp kè kè.
Diêm Vương phán hỏi rằng: chi đó?
Be!”.
(Phạm Thái, 1776–1813)
Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026
Giới thiệu các Luật thơ, hể thơ, cách làm thơ (Tiếp theo)
22. Thể thơ Tứ tuyệt:
Đúng ra tên gọi trong thi pháp Trung Hoa là thơ Tuyệt
cú (ngắt lấy 4 câu từ bài Đường luật). Tên gọi Tứ
tuyệt phổ biến tại Việt Nam do nhà văn hóa Phan Kế Bính viết trong cuốn Hán Việt văn khảo. Khái niệm này dễ hiểu hơn nên đã đi vào
tâm thức người làm thơ và người đọc Việt Nam.
Điều thi vị nhất của thể thơ này chính là sự linh hoạt trong liên đối. Dù
chỉ có 20 hoặc 28 chữ, nhưng nếu người làm thơ biết cách tận dụng cấu
trúc Khai - Thừa - Chuyển - Hợp, bài thơ sẽ tạo ra một sức nén cảm
xúc rất lớn, đặc biệt là ở câu “Chuyển” (câu 3) trước khi kết thúc
trọn vẹn ở câu “Hợp”.
Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ (tiếp theo)
21. Thể thơ Đường luật:
Thơ Đường luật xuất hiện vào đời nhà Đường bên Trung
Quốc (620 - 905). Đường luật là thể thơ có vần, đối nhau và hạn định bằng trắc
trong thơ rất chặt chẽ. Bằng trắc phải theo đúng luật, sai là thất luật.
Khởi luật: Tiếng thứ 2 câu đầu gieo vần bằng thì bài thơ đó là luật bằng; tiếng thứ 2 gieo vần trắc thì bài thơ đó là luật trắc. Quy tắc bằng trắc cụ thể như sau:
Thứ Hai, 23 tháng 3, 2026
Giới thiệu các Luật thơ, thể thơ, cách làm thơ (Tiếp theo)
1. Định nghĩa:
Là thể thơ cách luật của Việt Nam với những đặc điểm như sau: Hai câu trên đều
7 tiếng (song thất), hai câu dưới là một câu lục (6
tiếng) và một câu bát (8 tiếng). Mỗi khổ gồm 4 câu, cứ thế
theo trình tự diễn đạt cho đến hết ý.
Ví dụ điển hình: Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã dịch tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra thể thơ STLB rất tài hoa. Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều hay Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân đều được sáng tác bằng thể thơ STLB rất thành công trong nền văn học cổ điển Việt Nam.
Giới Thiệu Luật Thơ, Các Thể Thơ, Cách Làm Thơ (Tiếp theo)
Thể Thơ Lục Bát (phần tiếp theo)
Bài thơ “Lời ru với anh” theo thể lục bát khác lạ xuất hiện vào khoảng năm 1969 – 1971, được Lý Phương Liên sáng tác theo lối lục bát biến thể. Câu thứ nhất đến câu thứ tư đều đúng thể lục bát. Sang câu thứ năm, dù đủ chữ nhưng thiếu ý; tác giả không thêm tiếng trực tiếp vào câu như ca dao xưa mà ngắt thành ba câu, mỗi câu bốn tiếng: “Xòe ra / là gặp / Chim bằng trời biếc / Chim bằng con trai”.
