1. Định nghĩa:
Là thể thơ cách luật của Việt Nam với những đặc điểm như sau: Hai câu trên đều
7 tiếng (song thất), hai câu dưới là một câu lục (6
tiếng) và một câu bát (8 tiếng). Mỗi khổ gồm 4 câu, cứ thế
theo trình tự diễn đạt cho đến hết ý.
Ví dụ điển hình: Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã dịch tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra thể thơ STLB rất tài hoa. Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều hay Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân đều được sáng tác bằng thể thơ STLB rất thành công trong nền văn học cổ điển Việt Nam.
2. Nhịp điệu:
Hai câu thất: Nhịp 3/4 hoặc
3/2/2.
Câu lục: Nhịp 3/3 hoặc
2/2/2.
Câu bát: Nhịp 4/4 hoặc
2/2/2/2.
3. Cách gieo vần:
Tiếng thứ 7 câu thất trên và tiếng thứ 5
câu thất dưới hiệp vần với nhau.
Tiếng thứ 7 câu thất dưới hiệp vần với
tiếng thứ 6 câu lục.
Câu bát gieo vần như thơ lục bát.
Hai câu thất luôn đứng sau câu bát (của
khổ trước).
4. Ví dụ:
“Tưởng phong thể xót xa đòi đoạn,
Mặt rồng sao cách gián lâu nay!
Có ai chốn ấy về đây,
Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành?
Nẻo u minh khéo chia đôi ngả,
Nghĩ đòi phen, nồng nã đòi phen...”
(Lê Ngọc Hân, thời Tây Sơn)
“Trải phách quế, gió vàng hiu hắt
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
Oán chi những khách tiêu phòng
Mà xui phận bạc nằm trong má đào.
Duyên đã may cớ sao lại rủi...”
(Đoàn
Thị Điểm)
5. Các biến thể:
Cũng có thể mở đầu bài thơ thể STLB bằng hai câu lục bát:
“Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau
Kính yêu từ trước đến sau
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời
Cũng có lúc chơi nơi dặm khách
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo...”
(Nguyễn
Khuyến)
Hoặc:
“Bà Tú ơi! Bà Tú ơi!
Té ra bà đã qua đời thực ư?
Tôi cứ tưởng nằm mơ quái ác
Vùng dậy thì tỉnh giấc chiêm bao
Tỉnh dậy, nào thấy đâu nào
Nào đâu bóng dáng ra vào hôm mai...”
(Tú Mỡ)
6. Đối ngẫu:
Thơ STLB có thể dùng lối bình đối ở hai câu 7 tiếng:
“Tiếng địch thổi nghe chừng đồng
vọng,
Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.”
(Đoàn Thị
Điểm)
“Ngày sáu khắc tin mong
nhạn vắng,
Đêm năm canh tiếng lắng chuông rề”.
(Nguyễn Gia Thiều)
7. Tiểu đối ở
câu 6 và câu 8:
“Sông nước chảy (đối với) núi mây bay”.
(Tản Đà)
“Bà về trước (đối với) tôi đi sau”.
(Tú Mỡ)
“Tuôn màu mây biếc (đối với) trải ngàn núi xanh”.
“Gương loan bẻ nửa (đối với) dải đồng xé đôi”.
(Nguyễn Gia Thiều)
Song, cách đối nhau không phải là bắt buộc; đối trong
thơ STLB là do người làm thơ có tài năng, giàu vốn ngôn từ “múa bút” mà thành,
nhằm thể hiện độ tài hoa của thi sĩ.
19. Thể thơ
Cổ phong
Còn có tên gọi khác là cổ thi hay thơ
cổ thể. Đây là một thuật ngữ mang nội dung khá rộng, dùng để chỉ tất cả
những bài thơ có vần mà không bắt buộc đối nhau. Nếu có đối nhau là tùy theo ý
thích của nhà thơ chứ không phải quy định của luật thơ.
Thơ Cổ phong không có niêm luật chặt chẽ, không hạn
chế số chữ trong một câu, không giới hạn số câu trong một bài và không gò bó về
cách gieo vần. Chính vì vậy, nó mang màu sắc tự do, phóng khoáng, có khả năng
miêu tả và diễn đạt phong phú tâm ý của người viết, độ dài có thể từ 4 câu cho
đến hàng trăm câu.
Có hai cách gieo vần chính trong thơ Cổ phong: Độc
vận và Liên vận.
Độc vận: Là
cả bài thơ chỉ sử dụng duy nhất một vần.
Ví dụ về Ngũ ngôn độc vận:
“Rừng lau gió lác đác,
Chim hôm nay xào xạc.
Gánh củi lững thững về,
Đường quen không sợ lạc”.
Ví dụ về Thất ngôn độc vận:
“Hôm qua có bạn, rượu
lại hết,
Hôm nay có rượu, bạn không biết.
Cất đi đợi bạn đến lúc nào,
Cùng uống, cùng vui trời đất tít...
Khi say quên cả ai là ta,
Còn hơn lúc tỉnh nhớ mà mệt...”.
20. Thơ Ngũ ngôn và Lục ngôn thể
a). Thơ ngũ ngôn (thơ 5 chữ) là một thể thơ quen
thuộc trong văn học Việt Nam và TQ, trong đó mỗi câu thơ chỉ đúng 5 tiếng.
Tùy vào cách sắp xếp và quy tắc luật lệ, thơ ngũ ngôn có thể được chia thành
nhiều loại khác nhau.
Dưới đây là các đặc điểm và phân loại chính của thể thơ này:
1). Phân loại phổ biến
- Ngũ ngôn tứ tuyệt: Mỗi bài chỉ có 4
câu, tổng cộng 20 chữ. Đây là thể thơ súc tích, thường tuân theo cấu trúc Đề -
Thực - Luận - Kết (hoặc Khai - Thừa - Chuyển - Hợp).
- Ngũ ngôn bát cú: Mỗi bài gồm 8 câu, chia thành 4 cặp: Đề, Thực,
Luận, Kết. Loại này có quy định rất chặt chẽ về niêm, luật và đối giữa các câu
thực (câu 3-4) và câu luận (câu 5-6).
- Thơ ngũ ngôn tự do (Thơ 5 chữ): Không giới hạn số lượng câu hay
khổ thơ trong một bài. Các tác giả hiện đại thường sử dụng hình thức này để tạo
sự linh hoạt, gần gũi và dễ diễn đạt cảm xúc.
2). Đặc điểm về luật, vần và nhịp
- Nhịp thơ: Thường được ngắt theo nhịp 2/3 hoặc 3/2.
Cách ngắt nhịp này tạo nên âm hưởng nhịp nhàng, chậm rãi hoặc dồn dập tùy thuộc
vào nội dung biểu đạt.
Gieo vần: Thơ ngũ ngôn có cách gieo vần rất đa dạng:
- Vần chân: Vần nằm ở cuối câu thơ.
- Vần lưng: Vần nằm ở giữa câu thơ.
- Vần liền: Các câu liên tiếp hiệp vần với nhau.
- Vần gián cách: Các câu cách nhau hiệp vần (ví dụ câu 2 và
câu 4).
3). Luật bằng trắc: Đối với thơ Đường luật (tứ tuyệt hoặc bát cú),
các tiếng ở vị trí thứ 2 và thứ 4 trong câu phải đối lập nhau về thanh điệu
(Bằng - Trắc hoặc Trắc - Bằng).
4). Giá trị nghệ thuật
Thơ ngũ ngôn thường mang vẻ đẹp giản dị, hàm súc nhưng vẫn có khả năng gợi
hình, gợi cảm cao. Nó xuất hiện nhiều trong cả thơ cổ điển (như Tụng
giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải) lẫn thơ hiện đại (như Tiếng
thu của Lưu Trọng Lư hay Ông đồ của Vũ Đình Liên...).
5 chữ 4 câu đối nhau:
“Đoạt sáo
Chương Dương độ |(đối)
Cầm Hồ Hàm Tử quan.| (nhau)
Thái bình tu nỗ lực,
Vạn cổ thử giang san”.
(Trần Quang Khải - Tụng giá hoàn kinh sư)
5 chữ 8 câu đối nhau:
“Ơn
dày chưa kịp báo,
Cửa tía đã xa vời.
Trăm tuổi gương chưa hợp | (đối)
Một ngày bóng đã rời | (nhau)
Cành xuân chim lẻ bạn | (đối)
Mặt nước cá xa bời | (nhau)
Thăm thẳm đường dương thế,
Ngùi ngùi giọt lệ rơi”.
(Tự
Đức - Khóc Bằng Phi)
Không đối nhau:
“Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực Tàu, giấy đỏ
Bên phố đông người qua...”.
(Vũ Đình Liên - Ông Đồ)
“Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?”.
(Lưu Trọng Lư - Tiếng Thu)
b). Thơ Lục
ngôn thể (thơ sáu chữ)
Thơ Cổ phong có lối Lục ngôn thể, là thể
thơ mỗi câu có đúng 6 chữ. Giọng thơ thường chậm rãi, khoan thai và bình thản.
Ví dụ:
“Vua Tần ngồi yên sao đành,
Oán xây Vạn Lý Trường Thành.
Khương Nữ nàng ơi không chết,
Ngàn năm bia đá chữ trinh”.
(KD - dịch)
Thơ Mới:
Dưới đây là một đoạn thơ sáu chữ tiêu biểu mang âm
hưởng hiện đại:
“Anh đi mười năm trở
lại,
Phố xá làm anh bất ngờ.
Nhưng riêng chỉ đường sen ấy,
Một đời anh vẫn ngẩn ngơ...
Cuối thu, sen tàn lá rụng,
Anh như hóa đá ven hồ...”
(Bằng Việt)
