Thứ Hai, 23 tháng 3, 2026

Giới Thiệu Luật Thơ, Các Thể Thơ, Cách Làm Thơ (Tiếp theo)

 

Thể Thơ Lục Bát (phần tiếp theo)

Bài thơ “Lời ru với anh” theo thể lục bát khác lạ xuất hiện vào khoảng năm 1969 – 1971, được Lý Phương Liên sáng tác theo lối lục bát biến thể. Câu thứ nhất đến câu thứ tư đều đúng thể lục bát. Sang câu thứ năm, dù đủ chữ nhưng thiếu ý; tác giả không thêm tiếng trực tiếp vào câu như ca dao xưa mà ngắt thành ba câu, mỗi câu bốn tiếng: Xòe ra / là gặp / Chim bằng trời biếc / Chim bằng con trai.

Vần “ai” ở cuối câu 8 rất ăn vần với tiếng thứ sáu của câu bát tiếp theo. Từ câu thứ 10 đến câu thứ 16 trở lại lục bát chuẩn. Sang câu thứ 17, bằng lối điệp ngữ vòng tròn:

Lẽ nào em buộc cánh anh
Buộc cánh anh
Buộc cánh anh cũng chẳng thành tình yêu”.

Cách ngắt nhịp này tạo cảm giác mênh mang như một điệp khúc triền miên. Các câu tiếp theo biến đổi linh hoạt: câu 19 (bốn tiếng), câu 20 (tám tiếng), câu 21-23 (bốn tiếng), câu 24 buông thõng hai tiếng; hai câu cuối (25, 26) trở về thể lục bát chuẩn để kết thúc bài thơ. Nếu bây giờ ai đó làm thơ lục bát với hình thức này thì không còn lạ, nhưng ở thời điểm đó, đây là một sự đột phá táo bạo.

Về tác giả:
Lý Phương Liên là một cô gái hiền thục. Cha cô là cán bộ ngành điện lực, mất do bom Mỹ khi đang trực chiến. Mẹ cô cũng bị bom Mỹ sát hại trên một chuyến đò ngang sông Hồng khi giặc đánh phá cầu Long Biên năm 1966. Lý Phương Liên vừa đi học, vừa phải trông giữ xe đạp để lấy tiền nuôi năm chị em mồ côi. Bài thơ “Em mơ có một phiên tòa” được chị viết với lòng căm thù giặc sâu sắc và niềm xúc cảm phẫn uất:

Phiên tòa mở trong nhà em
Vòng trong, vòng ngoài là bà con hàng phố
Cụ già, cháu nhỏ
Nét mặt nghiêm trang
Ghế chánh án một hàng
Ban đại biểu, dân phòng, hộ tịch…
Vành móng ngựa sát góc
Bầy tù binh Mỹ gục đầu
Năm chị em ngồi sát vào nhau
Ngực nén đầy tiếng khóc.

Những vòng hoa thơm ngát
Xếp quanh
Như tấm lòng nhân dân
Vây quanh quan tài mẹ
Sau làn hương trầm thoảng nhẹ
Mẹ em về...
Mẹ em về…
Mẹ em về làm người minh chứng.

Ai đã nhìn thấy súng
Ai đã nhìn thấy bom
Ai đã nhìn thấy cảnh mẹ con
Chiều chiều vây quanh mâm cơm có cà và rau muống
…”

Bài thơ còn khá dài, trên 80 câu. Còn nhớ, hồi đó ở một cánh rừng già  giới tuyến miền Trung đầy bom đạn, cánh lính trẻ chúng tôi chụm đầu đọc cho nhau nghe bài thơ trên. Nghe xong cả tiểu đội đều giàn giụa nước mắt, chẳng ai bảo ai, tất cả đều phẫn uất tay cầm lấy súng...

Thơ Lý Phương Liên xuất hiện đột ngột, bất ngờ bởi một thi pháp lạ, mới mẻ, không gò bó theo khuôn mẫu truyền thống, cả về cảm xúc, ý nghĩa, hình ảnh lẫn nhạc điệu, tạo được rung cảm “thơ thực thơ", được người thưởng thức ngày ấy cảm mến ngay từ chùm thơ đầu. Nếu không có chuyện gì xảy ra thì bài “Ca bình minh” của chị đã được lấy làm tên tập thơ đầu tay. Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn đang tập hợp bản thảo để in thì bị ách lại...

Bài “Ca bình minh” có những câu:

Em đi làm ca ba
Đêm buông đầy đường phố
Hà Nội vào giấc say trẻ nhỏ!
Em đi giữa lòng đường
Hát khẽ
(con gái thường vẫn thế)
Tuổi ca ba rất trẻ
Đêm ca ba lại dài
Mười tám, đôi mươi
Tuổi như em khỏe ăn khỏe ngủ.

Bạn bè em có nhiều ý lạ
Khi nói tới ca ba
Ca của những đêm hè trời đầy sao hoa
Ca của những đêm đông bập bùng ánh lửa
Còn em với niềm vui bé nhỏ
Em gọi ca ba là ca bình minh
Ý nghĩ ấy gặp em như một sự vô tình
Đêm ca ba đi dọc đường Nam Bộ
Tay vẫy chào những đoàn tàu rời ga Hàng Cỏ
Đưa bộ đội lên đường
Các anh đi suốt ca ba thẳng tới chiến trường
Đón bình minh đất nước…”

“Ca bình minh” được phổ nhạc, được hát trên các sân khấu của người lao động, trên sàn diễn các nhà văn hóa, được hát liên tục trên các đài phát thanh Trung ương và địa phương. Tiếp đến, báo Văn Nghệ (Hội Nhà văn VN) in một bài thơ khác của chị: bài “Nghĩ về Thúy Kiều (Trò chuyện với Thúy Kiều)” nhân kỷ niệm 150 năm ngày mất của thi hào Nguyễn Du. Bài thơ đó mở đầu bằng những câu:

Hai trăm năm và chảy dài vô hạn
Thúy Kiều ơi, nàng sống tháng năm dài
Trái đất chúng mình cho đến hôm nay
Vẫn còn những cuộc đời như nàng chìm nổi
Thời gian còn nửa ngày là đêm tối

Còn đồng tiền đổi trắng thay đen

Còn sắc tài bạc mệnh với hơn ghen…”

Và cứ thế là niềm suy tư, day dứt, bâng khuâng của cô gái 17 tuổi về thân phận nàng Kiều. Nàng Kiều ấy không chỉ của Thanh Tâm Tài Nhân, không của riêng Nguyễn Du. Đó là nỗi đau thân phận, nỗi đau kiếp người ở mọi xã hội khác nhau, mà xã hội nào thì cũng thừa Tú Bà, dư Sở Khanh, nhan nhản Ưng, Khuyển. Đồng tiền muôn đời vẫn là quỷ là ma đổi trắng thay đen; bể trầm luân vẫn dìm, vẫn đày đọa bức hiếp những kiếp người. Kiếp nghèo vẫn ngoi ngóp nổi chìm bởi cái vòng “kim cô” luôn siết chặt quanh đầu người lương thiện làm họ đau đớn, muốn cởi bỏ mà không đủ phép màu, cứ cái bất công này xóa bỏ, bất công khác lại trồi sinh (Hegel).

Sau bài thơ “Trò chuyện với Thúy Kiều” định mệnh ấy, Lý Phương Liên như một vệt sao băng lóe sáng rồi tắt phụt khỏi bầu trời thi ca từ đó đến nay. Tại sao chị không làm thơ nữa? Bị “thôi tài” chăng? Khó tin! Ai đã có chút máu mê thơ phú thì dù làm thơ có dở chăng nữa cũng không bao giờ từ bỏ niềm đam mê - cái công việc khổ sai mà ai đã vướng vào thì không sao gỡ ra cho được (Bùi Ngọc Tấn). Không làm thơ đăng báo, đăng đài được thì họ làm thơ để đọc ở các câu lạc bộ thơ phường, thơ xã… chưa ai nhụt chí bỏ cuộc bao giờ.

Hồi ấy, thi đàn miền Bắc đang còn nguyên những “cây đa cây đề" xòe tán sum xuê che rợp cả bầu trời thi ca. “Cây đa cây đề” nào cũng như ả gái già ế chồng đốc chứng khó tính, giương mục kỉnh săm soi, đe nẹt từng câu, từng chữ, từng vần, từng cái dấu chấm, dấu phẩy của những kẻ dám mon men vào thánh địa cấm kỵ - Thánh địa thơ!

Vậy mà một cô gái 17 tuổi con nhà “phó thường dân” dám ngang nhiên xuất hiện với bài thơ tình “Lời ru với anh” sướt mướt như muốn níu chân những đoàn quân đang hừng hực khí thế ra mặt trận! Chưa thôi, còn toang toang lên, hết bài “Ca bình minh” với những đêm không ngủ, đớn đau không biết làm gì trước số phận của những kiếp người hẩm hiu, đành ngồi trò chuyện cùng nàng Kiều bạc mệnh để: Ai cũng muốn một ngày là một ngày sống đẹp / Đêm thao thức cho ngày, biến cái thể thơ mực thước từ nghìn đời thành những câu cú “thiếu thốn” lung tung. To gan! Tha không nọc ra mặt báo đánh đòn hội chợ là may đời rồi, còn được khen hay, khen hiện đại ầm ĩ, thế thì có “bủ bu” thằng Chí Phèo không kia chứ!

Khi không thấy Lý Phương Liên xuất hiện, họ lại lu loa tin đồn: Những bài thơ trên của Lý Phương Liên là do nhà thơ Đ. trong nhóm Nhân văn Giai phẩm đang bị treo bút làm rồi đưa cho chị đứng tên đăng báo hộ!? Sao người đời cứ “trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” quá thể. Trường hợp cậu bé Trần Đăng Khoa, năm 11, 12 tuổi làm những câu thơ: Hạt gạo làng ta / Có bão tháng ba / Giọt mồ hôi sa / Những trưa tháng sáu / Nước như ai nấu / Chết cả cá cờ / Cua ngoi lên bờ / Mẹ em xuống cấy…. Vậy thì, một cô gái ở tuổi dậy thì bắt đầu biết yêu làm được những câu thơ tình cháy bỏng: Lồng con phòng hẹp đôi ta / Chim bằng chẳng thể quanh ra quẩn vào / Xa anh nói nhớ làm sao / Chân đứng tổ kiến lòng chao gió cành… có gì là lạ?

Cái bản chất xấu xí của một bộ phận người Việt là “hay ghen ăn tức ở”, hễ thấy người ta giỏi, người ta tài hơn mình là tung tin thất thiệt để hạ bệ, quăng xuống bùn cho bõ tức! Thật buồn cho thói đời nhỏ nhen chỉ thích chèn lấn! Quan tâm tới một hiện tượng văn học bị ganh ghét, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã đem thơ Lý Phương Liên ra xem xét một cách nghiêm túc, so sánh tính biểu cảm ngôn từ, tu từ học để xác định tính logic của văn phong, phong cách cấu trúc giữa ngôn ngữ thơ Lý Phương Liên với nhà thơ Đ. Vì rằng: Thơ phát ra bằng tần số rất riêng của từng người, không lẫn lộn” (Hoàng Hưng). Tiếc thay cho những anh “Tào Tháo”, phong cách ấy vẫn chính hiệu là ngôn ngữ thơ Lý Phương Liên, đồng nhất như cây nào đơm trái ấy xuyên suốt từ bài đầu tiên cho đến những bài về sau.

Dăm năm cuối thế kỷ 20 sang đầu thế kỷ 21, những người làm thơ tự bỏ tiền in thơ “tung hoành” như bươm bướm đem tặng nhau để bày cho đầy giá sách làm sang. Có anh nhà giàu in đến mười mấy tập thơ dạng “báo tường báo liếp” hòng trở thành nhà thơ lớn! Thơ nhạt cũng như rượu nhạt, chẳng làm say được ai (Vân Long). Thèm danh quá, họ hò hét đổi mới thơ để in ra thật nhiều tặng nhau cho “đắt hàng”! Loại bỏ thứ thơ “cúng cụ”, bốc thơm, “loại thơ suỵt chó bụi rậm” (Lưu Quốc Ấn), họ tìm đường quay về với cái “tôi” thân phận - điều mà Lý Phương Liên đã làm từ khi họ còn đang mê mẩn: Tôi: người viết những câu thơ cổ võ / Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi lúc xung phong (Chế Lan Viên - Di cảo). Bao nhiêu cuộc hội thảo bàn tròn, bàn vuông về thơ, nhưng người ta vẫn cố tình lờ tịt, không hề nhắc đến Lý Phương Liên - người khởi xướng việc làm mới hình thức thể hiện thơ từ hơn ba mươi năm trước lấy nửa chữ.

Một lần, gặp nhà thơ V. người có chân trong nhóm chuyên chọn in những tập thơ tuyển cho một Hội Nhà văn nọ, tôi hỏi sao không thấy bài thơ nào của Lý Phương Liên được chọn vào các tuyển tập? Ông nhà thơ đó nói rằng không biết Lý Phương Liên là ai! Giá câu trả lời ấy ông nhà thơ V. nói vào lúc thơ in từng chồng như núi thời nay thì còn chấp nhận được. Chứ những năm 1960 – 1980, ai có thơ đăng báo, đăng đài thì gần như một “người giời” vừa xuất hiện… Ôi! Thật buồn cho cái sự công bằng, cái tâm kẻ sĩ!

 

XEM BÀI SAU TRANG CHỦ