Bùi Cửu Trường: Bài thơ tôi thích
VẺ PHỒN THỰC ẢO HUYỀN TRONG “ÁO MƯỜNG” CỦA HOÀNG XUÂN
HỌA - TÌNH YÊU BAO TRÙM HẾT THẢY
NGUYÊN VĂN BÀI THƠ: ÁO MƯỜNG
Ngực em chót vót Ba Vì
làm tôi chết đứng một thì trẻ trai
lưng ong vời vợi ban mai
làm tôi quên khuấy đường dài về quê
váy chàm quét mướt triền đê
cỏ vô phong bỏ bùa mê tôi rồi*
hai hàng khuy tết sóng đôi
tôi - người lúng túng giữa trời áo em.
(1979 - 1989)
Hoàng Xuân Họa
----------------
* Tương truyền, trên núi Ba Vì có thứ cỏ "vô
phong động đao" (trời không có gió vẫn động), lá cỏ có hai nhánh, buổi
sáng tách ra, tối tự chụm vào. Trai gái Mường thường lấy cỏ này đeo trên người
làm bùa yêu.
LỜI BÌNH:
Với tôi, tác giả như một người trong gia đình nên tôi
luôn trêu chọc theo kiểu “đành hanh” em út. Tôi vốn lêu têu... cái gì dính đến
“yêu đương” là ngại, là muốn tránh xa. Nhất là lại bàn chuyện yêu với người
trong nhà như anh, nó cứ “thế nào ý”.
Anh chấp nhận chơi với chúng tôi - những “Hạt Cát” nhỏ
bé nhưng hay chành chọe, hay lấn lướt. Anh thì luôn im lặng và mỉm cười chịu
đựng. Tôi hiếu thắng, bèn lôi tất cả những gì thuộc về yêu đương “trót trét” mà
anh thể hiện trong thơ để tấn công cho bõ tức. Song khi đọc Áo Mường,
ngay câu đầu: “Ngực em chót
vót Ba Vì” thì tôi vội “lui xa mươi mét”...
Vì sao ý à? Vì lẽ, các thi nhân, các danh tướng, các
trang nam nhi mọi thời đại... tóm lại là “một nửa thế giới” luôn coi cái nơi
“chót vót Ba Vì” ấy - cái Nguồn Sống nuôi dưỡng nhân loại - là cái đẹp, vẻ hấp
dẫn để thỏa cái “đói”, cái khát, cái thèm muôn thuở. Cái gỉ gì gi đi nữa thì nó cũng chỉ là “cặp tuyết lê” mịn màng,
“đôi trái đào tiên” hồng rực khát khao...
Nhưng “Người Trai” trong thơ Áo Mường thì
không thế. Chàng coi ngực người phụ nữ là núi thiêng Ba Vì - nơi cội nguồn hàm
chứa bí ẩn nguồn sống đất và nước, nơi sinh ra muôn loài cỏ cây, muông thú,
bướm ong; là “đỉnh thẳm” (từ mượn của nhà thơ Hạnh Nguyên); là nơi hội tụ sức
mạnh truyền đời âm thầm quật cường, mà lại hiện hữu rất thực, mịn màng và mướt
mát non tơ.
Nhưng muốn có được nó, “Người Trai” đó phải nâng mình
bay lên ngang tầm, dồn mọi nỗ lực vươn cho thật cao; phải “dọn” tâm, thân cho
thanh khiết, ngọt lành và mọng chín mới mong có được. Ngọn núi thiêng sẽ vô tri
nếu kẻ đến là kẻ vô tâm; là đá lạnh rêu phong với kẻ hồ đồ; là gai mây lá han
với kẻ phàm phu tục tử... Nhưng với người nguyện “chết đứng một thì trẻ trai”
như nhân vật trong thơ Hoàng Xuân Họa, thì núi thiêng chót vót lại dịu dàng
chào đón, chờ mong.
Đời người đàn ông có mấy “thì trẻ trai” để mà “chết
đứng”? Và dù có mấy thì đi nữa, đã bao giờ ta có duyên gặp được một điều thiêng
liêng đến thế để mà “chết đứng” một lần? Khi tình yêu chân thành, thì sự thanh
tân của vẻ phồn thực trắng trong tinh khôi cũng trở nên thánh thiện, khiến
“tráng sĩ gác kiếm” nguyện quy phục, quy hàng.
Ta đọc tiếp câu: “lưng ong vời vợi ban mai” mà phát cười. Tôi ngó
thời gian viết bài thơ... từ năm 1979 đến 1989. Trời đất, nhà thơ mất mười năm
cho một cái “lưng ong” cũng đáng lắm, vì nó “vời vợi ban mai” cơ mà! Nó gợi mở
cả một ngày nắng đẹp, hứa hẹn cả một mùa tình dịu dàng ấm áp đang đợi chờ. Nên
người trai trong cuộc mới “quên khuấy đường dài về quê”.
Thiên địa ơi, bị trúng “ngải tình” rồi! Yêu một cái gì
đó mênh mang lắm, đằm thắm lắm... đâu chỉ riêng cái lưng ong ấy! Một lưng ong
cụ thể thì có thể “ôm đại” rồi buông, rồi quên. Nhưng một “lưng ong vời vợi ban
mai” mới là sự day dứt khát khao, làm lú lẫn cả lối về. Mà có về được đến quê
đi nữa, liệu mỗi sớm ban mai dấu ấn ấy có nhòa đi?
Tôi lần theo nhịp thơ anh... xuôi theo khao khát của
người trai trong thơ (chắc gì đã là anh?). Một niềm đắm mê giấu kín không ngôn
từ, niềm mong ước cháy bỏng hiện lên qua hình tượng “cỏ vô phong”. Cỏ không gió
mà tự rung... Tình yêu cũng là một trạng thái không cần đối tượng mà tâm hồn cứ
dâng lên, cứ kiếm tìm, cứ ảo huyền dàn cảnh “mơ tiên” ru người ta về cõi Thiên
Thai. Cái khát khao rất “người” và thanh tịnh ấy làm cho lối ví mông lung có vẻ
“ngoa ngôn” ở trên bỗng hiện hữu thành mầm cỏ non xanh cõng sương trong vắt. Trạng
thái người trong cuộc, từ “chết đứng” qua “quên khuấy” đến đây thì bị “bỏ bùa
mê”... Thôi rồi, đắm chìm rồi! Sự phát triển cao trào của tâm trạng hoàn toàn
phù hợp với quy luật tình cảm con người.
Mờ mờ ảo ảo, một cái gì đó “như vậy mà không phải vậy”.
Các cung bậc tình cảm là thế nhưng lại cao hơn thế. Sự trân trọng thánh thiện
trong tình yêu khiến câu chữ thăng hoa, khiến cái hiển hiện trước mắt thành cao
siêu, khiến ham muốn thành ước mơ thần thánh, và cái nhìn bình thường thành pha
lê trong vắt. Cái tài tình của nhà thơ là dùng ngôn từ vừa lạ vừa quen, tưởng
như phô trương mà lại rất thực, biến cái đời thường thành nỗi nồng nàn, mê đắm
nhưng không hề dung tục tầm thường.
“hai hàng khuy tết sóng
đôi
tôi - người lúng túng giữa trời áo em”
Tôi thú vị khi hình dung vẻ lúng túng của người trai
trước hàng khuy tết và trong “trời áo” người yêu. Có một cái gì đó vụng về đáng
yêu, ngỡ ngàng và thành kính. Câu kết rất thực, vẹn tròn sự trao gửi và dâng
hiến, khiến người đọc cũng bay bổng trong cảm giác hạnh phúc lâng lâng.
Áo Mường -
một bài thơ phồn thực rất tinh tế, mà ở đó, ta chỉ thấy một tình yêu thiêng
liêng bao trùm hết thảy.
Bùi Cửu Trường
(Hạt
Cát – Diệu sinh)
2015
