Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ (tiếp theo)

 
            Bìa 1 XB 2004

23. Thể thơ Yết Hậu:
Yết hậu: là tiếng cuối của bài thơ bao giờ cũng như một tiếng kêu, tạo sự bất ngờ. Thơ Yết Hậu thường làm để mua vui, giải tỏa nỗi buồn, hoặc để giễu cợt, châm biếm.

Ví dụ:
Sống ở dương gian đánh chén nhè,
Chết xuống âm phủ cắp kè kè.
Diêm Vương phán hỏi rằng: chi đó?
Be!”.
                  (Phạm Thái, 1776–181

 

Chuyện Vợ Chồng:
Vợ:
Vai năm tấc rộng để mà chi,
Chưa tối ăn no nằm ngủ khì.
Mình ơi thức dậy chiều em chút...
Đi!

Anh chồng đáp:
Cả ngày bận rộn soạn văn bài,
Mỏi cả xương sườn, rục cả vai.
Việc ấy đôi ta đành gác lại...
Mai!”.
(Theo Hồ Sỹ)

 

Sư, Vãi (Đối đáp):

Sư:
Chơi xuân kẻo nữa già,
Lâu nay vẫn muốn mà,
Mời vãi vào nhà hậu...
Ta!

Vãi:
Đã mang tiếng xuất gia,
Còn đeo thói nguyệt hoa,
Sư mô đâu có thế?
Ma!

Sư:
Quy y bảo chẳng nghe,
Chủng chẳng có phen què;
Ở chùa ăn hại oản...
Về!

 

Vãi:
Đầu trọc tếch, nhẵn cừ,
Trông mặt khéo là như...
Tu hành đâu có thế!
Hư!

 

Tiểu:
Thấy sự nực cười thay!
Sư ghẹo vãi ban ngày;
Vãi chẳng nghe, sư giận...
Hay!

 

Sư:
Chú tiểu thực là ngoan,
Đã bảo chớ nói càn,
Mai cho nhiều oản chuối...
Van!

 

Tiểu:
Sư biết một mình tôi,
Làng biết nữa đi đời.
Đã van không nói nữa...
Thôi!”.
                         (K.D)

 

24. Thể thơ Thủ Vĩ Ngâm:
Thơ Thủ Vĩ Ngâm (còn gọi là thơ “đầu đuôi ngâm”), là thể thơ có câu đầu và câu cuối giống hệt nhau, tạo thành một vòng lặp lại cảm xúc.

           KHÓC TỔNG CÓC
“Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi!
Cái nợ ba sinh đã trả rồi.
Chôn chặt văn chương ba tấc đất,
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời.
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất,
Miệng túi càn khôn khép lại thôi.
Hăm bảy tháng trời là mấy chốc,
Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi!”.
                               (Hồ Xuân Hương)

 

                NHỚ BẠN
Ta lại tìm về những dấu xưa
Lối mòn sỏi đá vắng người thưa
Heo may thổi nhẹ vương làn tóc
Nắng nhạt bên thềm lốm đốm thưa
Kỷ niệm đong đầy trong khóe mắt
Ân tình gửi lại những dòng thưa
Người đi có thấu lòng ta đợi
Ta lại tìm về những dấu xưa”.

                              ( KD)

 

                ĐỜI NGƯỜI
Ngẫm chuyện nhân gian thật nực cười
Đua chen lợi lộc mấy mươi mươi
Khi sang kẻ rước người đưa lối
Lúc khó không ai hé miệng cười
Thoát chốc xuân thì nay tóc bạc
Vèo trôi tuổi trẻ bỏ vui cười
Buông tay nhắm mắt nào mang được
Ngẫm chuyện nhân gian thật nực cười”.

                                                (KD)

 

             CẢNH CHIỀU HÔM
Chiều hôm ngơ ngẩn bóng quan hoài
Vách quế âm thầm dấu móng mai
Đã mấy thu rồi gương nhật nguyệt
Bao nhiêu sương tuyết tóc bồng lai
Thú vui vương giả nơi đâu tá?
Cảnh cũ tang thương lọt mắt ai?
Người ở trên trời hay dưới đất?
Chiều hôm ngơ ngẩn bóng quan hoài
”.

                          (Bà Huyện Thanh Quan)

Đặc điểm nhận diện:

- Cấu trúc: Câu 1 = Câu 8.

- Tác dụng: Tạo cảm giác quẩn quanh, không dứt, rất phù hợp để diễn tả nỗi buồn, sự hoài niệm hoặc những triết lý nhân sinh lặp lại.

 

 

25. Thể thơ Liên hoàn:
Thơ Liên hoàn gồm hai hay nhiều khổ, trong đó câu cuối của khổ trước sẽ được lặp lại làm câu đầu của khổ sau, tạo sự kết nối liên tục như một dây xích.

 

Hủ Nho Tự Thán
I

Ngán nỗi nhà nho bọn hủ ta,
Hủ sao hủ gớm hủ ghê mà.
Phen này cái hủ xua đi hết,
Cứ để cười nhau hủ mãi a?

II
Cứ để cười nhau hủ mãi a?
Cười ta, ta cũng biết rằng ta.
Nay đương buổi học ganh đua mới,
Còn giữ lề xưa mãi thế a?

III
Còn giữ lề xưa mãi thế a
?...”
                                  (K.D)

 

HỦ NHO TỰ TRÀO

Bài I

“Ngán nỗi nhà nho bọn hủ ta,
Hủ sao hủ gớm hủ ghê mà!
Thơ suông nước ốc còn ngâm váng,
Rượu bự non chai vẫn chén khà.
Múa mép rõ ra văn chú Chiệc,
Dài lưng quen những thói con nhà.
Phen này cái hủ xua đi hết,
Cứ để cười nhau hủ mãi a?

Bài II

Cứ để cười nhau hủ mãi a?
Cười ta, ta cũng biết rằng ta.
Nay đương buổi học ganh đua mới,
Còn giữ lề xưa mãi thế a?
Trót quá bước chân vào cửa Khổng,
Nên mòn xương mặt với đồ Nho.
Phen này cái hủ xua đi hết,
Hủ mãi làm chi hủ gớm mà.

Bài III

Hủ mãi làm chi hủ gớm mà,
Càng nhìn càng thấy nỗi chua cay.
Ưng mang lấy nợ nghiên cùng bút,
Thà gác cho cao túi với dây.
Bỏ lối sáo suông thay lối thật,
Tìm phương ích quốc trả ơn dày.
Phen này cái hủ xua đi hết,
Há để mai sau hủ mãi rày.

Bài IV

Há để mai sau hủ mãi rày,
Muốn cho dân tiến phải ra tay.
Đừng đeo lối học nghìn năm cũ,
Phải mở con đường vạn đại nay.
Cải tiến việc đời theo lẽ mới,
Gội nhuần ơn nước hưởng xuân say.
Phen này cái hủ xua đi hết,
Hết hủ rồi ta mới gọi ta
”.

                   (Phan Kế Bính)

                        (Phan K(ế Bính)

26. Thể Châm

Thể châm là bài văn vần viết để tự răn mình hoặc răn người. Thông thường, những người sống nội tâm hay dùng thể thơ này. Cách làm như sau:

Bài Châm:
Lòng người phát động, bởi nói mà ra.
Lòng chớ nóng nảy, trước giữ khoan hòa.
Cái máy đầu lưỡi, nên hay gieo vạ.
Lành dữ nhục vinh, bởi tự đó cả
”.
                                        (K.D)


Luôn biết mình dốt,

để gột tính kiêu.
Để yêu như mới,

để cởi mối hiềm.
Để thêm tính thiện
”.
                            (Phạm Thiên Thư)

 

Tai họa thường bắt đầu

bằng một cơn cuồng giận,

và kết quả về sau

là nỗi buồn ân hận”.
                       (Thái Bá Tân)

 

Cứng quá thì gãy,
Nhọn quá thì cùn.
Người hay thì kín,
Kẻ dở thì khoe
”.

                 (KD)

Cơn giận bùng lên,
Như lửa đốt rừng.
Một chút chẳng nhịn,
Trăm năm lụy thân
”.

                          (KD)

Điểm chung của các bài này là dùng thể ngũ ngôn (5 chữ) hoặc tứ ngôn (4 chữ) để tạo cảm giác đanh thép, dễ nhớ như những câu khẩu hiệu nằm lòng.

 

27. Thể Minh
Minh là thể văn vần (có đối hoặc không), thường được khắc trên gỗ, đá tại đình chùa để ca tụng công trạng của nhân vật lịch sử, hoặc viết lên giấy dán ở những nơi trang trọng để ghi nhớ công đức, sự nghiệp của người xưa. Ngoài ra, Minh còn được dùng để đúc kết các câu cách ngôn thành vần điệu, dùng làm lời tự răn mình (Tự Minh). Số chữ trong câu không gò bó, nhưng lời văn phải đanh thép, gọn gàng và súc tích.

 

1). Bài Minh Tu Thân
Lỗi người chớ bận nói,
Mình hay chớ tự khen.
Làm ơn đừng để nhớ,
Chịu ơn quyết chẳng quên.
Lời khen chưa đủ mến,
Lấy đức dựng làm nền”.
                         (K.D)

 

2). Tọa Hữu Minh (Thôi Viên)

Đây là bài Minh nổi tiếng nhất trong văn học cổ, đặt bên cạnh chỗ ngồi để tự nhắc nhở:

“Vô đạo nhân đoản,
Vô thuyết kỷ trường.
Thi nhân thận vật niệm,
Thụ ân thận vật vong”.
(Chớ nói xấu người, chớ khoe mình giỏi. Giúp người đừng nhớ, chịu ơn đừng quên). Học giả Nguyễn Văn Ngọc (biệt hiệu Ôn Như) dịch ra thơ lục bát như sau:

Chớ khen mình giỏi mình hay,
Chớ chê người dở người dầy người vơi.
Làm ơn chớ có nhớ hoài,
Chịu ơn chớ có một mai quên lòng
”.

 

3). Bài Minh về Sự Học (Học Minh)

Ngọc bất trác, bất thành khí,
Nhân bất học, bất tri lý.
Sáng rèn lòng, tối luyện trí,
Chớ để xuân xanh trôi lãng phí
”.

4). Bài Minh về Sự Im Lặng (Chỉ Ngôn Minh)

Miệng là cửa họa,
Thân là bể khổ.
Nói ít làm nhiều,
Tâm an ý độ
”.

5). Bài Minh về Lòng Tham (Liêm Minh)

Vật không là của mình,
Chớ tơ hào mảy may.
Lòng trong như nước suối,
Ngủ ngon chẳng chau mày
”.

Đặc điểm của thể Minh là “lời ít ý nhiều”, càng đọc càng thấy thấm về mặt đạo lý.

 

XEM BÀI SAU TRANG CHỦ