28. Thể Phú:
Phú hành văn khác với thơ. Phú có 2 thể: cổ phú
và Đường phú.
1). Cổ phú: Có vần và không đối nhau, như một bài ca dài hay là bài văn xuôi có vần
không đối nhau, không hành xích gì rối rắm.
2). Đường phú: Đường phú có vần và đối nhau. Cách gieo vần cũng như thơ, có cả hạn vận
và phóng vận. Mở đầu bái phú là hai câu, mỗi câu 4 tiếng theo lối bình đối:
“Vườn hoa rắc
gấm
Giặng liễu buông mành”
Hai câu mỗi câu 4 tiếng đối nhau gọi là bát tứ. Hai câu đối nhau mỗi câu 5 tiếng trở lên gọi là song quan (hai câu cửa), hai câu làm một vế trên đối với hai câu vế dước gọi là cách cú (cách một câu mới đối). Ba bốn câu làm một vế trên, đối với dưới cũng ba bốn câu, gọi là hạc tất (gối đầu con hạc).
Bài mẫu 1.
Thể
song quan (phóng vận):
“Vườn hoa rắc gấm >Bát
Giặng
liễu buông mành >tứ
Phấp phới bướm bay trước gió | Song
Nỉ
non chim hót đầu cành | quan
Giang sơn nở mặt tươi cười, trời quang mây | Cách
Tạnh;
Tạo hoá ra tay tô điểm, nụ thắm cành xanh | cú
Mới ngày nào thu ủ đông rầu sương sa như bạc >Hạc
Lá rụng như vàng, chiều tịch mịch vừa trêu
Vừa gợi;
Mà nay đã trời tươi, đất tỉnh, núi vẽ ra mây
Lá cười ra miệng, cảnh xuân thiều càng ngắm càng
xinh >tất.
(K.D)
Bài mẫu 2.
nguyên văn cả đoạn:
“Mình ngồi thành thị;
Nết
đụng sơn lâm.
Muôn nghiệp lặng an nhàn thế tĩnh;
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm
Tham ái nguồn rừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc
Quý;
Thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến hót oanh
ngâm.
Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều
người đắc ý;
Biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy
chữ
Tri âm;
Nguyệt bạc rừng xanh, soi mọi chỗ thiên hà lai
láng;
Liễu mềm hoa tốt, ngất quần sinh tuệ nhật sâm
lâm.
Lo hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục;
Nhắm trường sinh, về thượng giới, thuốc thỏ còn đam
Sách Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu
báu;
Kinh nhàn đọc dấu (yêu dấu), trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim”.
(Trần Nhân Tông)
Thể song quan và biền ngẫu.
Song quan khác với biền ngẫu
vì tiếng thất thứ nhì gieo vần ở tiếng thứ 5, để nối vần câu cuối cùng của câu
thất thứ 3 với tiếng cuối của câu thứ nhì:
“Dưới kim ô đàn bạch
nhạn loi thoi >Song
Doành bích lãng tiếng ngư ca dặng dõi > quan
Đầu lâm điểm bạch tà dương ngoại >Song
Thừa tịch nhân ca cố độ đầu > quan
Gió trăng, chếnh choáng rượu lưng bầu > Song
Non nước bê bai cầm mấy khúc > quan”.
(K.D)
Xin giới thiệu bài phú của Nguyễn Hãng,
một danh sĩ thời Lê Trung Hưng.
Đại Đồng phong cảnh phú
Đặc khí thiêng liêng;
Nhiều nơi thanh lạ.
Non Xuân Sơn cao thấp triều tây;
Sông Lôi Thuỷ quanh co nhiễu tả.
Ngàn tây chìa cánh phượng, dựng thửa hư không;
Thành nước uốn hình rồng, dài cùng dãy đá.
Đùn đùn non yên ngựa, mấy trượng khoẻ thế kim thang;
Cuồn cuộn thác Con Voi, chín khúc bền hình quan toả.
Thêm có:
Lâu đài kề nước;
Hoa cỏ hướng dương.
Thược dược khéo mười phần tươi tốt;
Mẫu đơn khoe hết bực giàu sang.
Hây hây ngõ hạnh, tường đào, quanh nhà thái tổ;
Thay thảy đường hoè, dặm liễu, hóng gió thiều quang.
Má hồng điểm thức yên chi, đầy vườn hạnh, xem bằng quốc sắc;
Quần lục đượm mùi long não, dãy tường lan, nức những thiên hương.
Lại có nơi:
Tiện nẻo vãng lai;
Ra nơi thành thị.
Tán đầu khăn hợp khách bốn phương;
Xe dù ngựa dong đường thiên lý.
Đủng đỉnh túi thơ, bầu rượu, nặng cổ thằng hề;
Dập dìu quần sả, áo nghê, dầu lòng con tí.
Diên đồi mồi, châu châu, ngọc ngọc, nhiều chốn phồn hoa;
Viện thu thiên, ỷ ỷ la la, mười phần phú quý.
Xem phong cảnh chỉn đã khác thường;
Gẫm tạo vật thật đà có ý.
Thửa mắc:
Trời sinh chúa thánh;
Đất có tôi lành.
Xem ngôi kiền đòi thời mở vận;
Phép hào sư lấy luật dụng binh.
Đất tam phân có thửa hai, chốn chốn đều về thanh giáo;
Nhà bốn bể vầy làm một, đâu đâu ca xướng thái bình.
Chín lần nhật nguyệt làu làu, cao đường hoàng đạo;
Nghìn dặm sơn hà chễm chễm, khoe thế vương thành.
Hình thế ấy khen nào còn xiết;
Phong cảnh này thực đã nên danh!
Nguyễn Hãng
(Phần tiếp là thơ Tự Do)
