Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ - (phần tiếp)

 

28. Thể Phú:

Phú hành văn khác với thơ. Phú có 2 thể: cổ phú và Đường phú.

1).  Cổ phú: Có vần và không đối nhau, như một bài ca dài hay là bài văn xuôi có vần không đối nhau, không hành xích gì rối rắm.

2).  Đường phú: Đường phú có vần và đối nhau. Cách gieo vần cũng như thơ, có cả hạn vận và phóng vận. Mở đầu bái phú là hai câu, mỗi câu 4 tiếng theo lối bình đối:

Vườn hoa rắc gấm

Giặng liễu buông mành

Hai câu mỗi câu 4 tiếng đối nhau gọi là bát tứ. Hai câu đối nhau mỗi câu 5 tiếng trở lên gọi là song quan (hai câu cửa), hai câu làm một vế trên đối với hai câu vế dước gọi là cách cú (cách một câu mới đối). Ba bốn câu làm một vế trên, đối với dưới cũng ba bốn câu, gọi là hạc tất (gối đầu con hạc).

 

                   Bài mẫu 1.

      Thể song quan (phóng vận):

      Vườn hoa rắc gấm >Bát

 Giặng liễu buông mành >tứ

Phấp phới bướm bay trước gió | Song

Nỉ non chim hót đầu cành | quan

 

Giang sơn nở mặt tươi cười, trời quang mây | Cách

Tạnh;

Tạo hoá ra tay tô điểm, nụ thắm cành xanh | cú

Mới ngày nào thu ủ đông rầu sương sa như bạc >Hạc

Lá rụng như vàng, chiều tịch mịch vừa trêu

Vừa gợi;

Mà nay đã trời tươi, đất tỉnh, núi vẽ ra mây

Lá cười ra miệng, cảnh xuân thiều càng ngắm càng xinh >tất.

                                                           (K.D)

 

Bài mẫu 2.

nguyên văn cả đoạn:

          Mình ngồi thành thị;

          Nết đụng sơn lâm.

Muôn nghiệp lặng an nhàn thế tĩnh;

Nửa ngày rồi tự tại thân tâm

Tham ái nguồn rừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc

Quý;

Thị phi tiếng lặng, được dầu nghe yến hót oanh ngâm.

Chơi nước biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý;

Biết đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chữ

Tri âm;

Nguyệt bạc rừng xanh, soi mọi chỗ thiên hà lai láng;

Liễu mềm hoa tốt, ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm.

Lo hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục;

Nhắm trường sinh, về thượng giới, thuốc  thỏ còn đam

Sách Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu;

Kinh nhàn đọc dấu (yêu dấu), trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim.

                                                         (Trần Nhân Tông)

 

Thể song quan và biền ngẫu.

Song quan khác với biền ngẫu vì tiếng thất thứ nhì gieo vần ở tiếng thứ 5, để nối vần câu cuối cùng của câu thất thứ 3 với tiếng cuối của câu thứ nhì:

Dưới kim ô đàn bạch nhạn loi thoi >Song

Doành bích lãng tiếng ngư ca dặng dõi > quan

Đầu lâm điểm bạch tà dương ngoại  >Song

Thừa tịch nhân ca cố độ đầu > quan

Gió trăng, chếnh choáng rượu lưng bầu > Song

Non nước bê bai cầm mấy khúc > quan”.

                                                 (K.D)  

 

Xin giới thiệu bài phú của Nguyễn Hãng, một danh sĩ thời Lê Trung Hưng.

 Đi Đng phong cnh p
Đặc khí thiêng liêng;
Nhiều nơi thanh lạ.

Non Xuân Sơn cao thấp triều tây;
Sông Lôi Thuỷ quanh co nhiễu tả.

Ngàn tây chìa cánh phượng, dựng thửa hư không;
Thành nước uốn hình rồng, dài cùng dãy đá.

Đùn đùn non yên ngựa, mấy trượng khoẻ thế kim thang;
Cuồn cuộn thác Con Voi, chín khúc bền hình quan toả.

Thêm có:
Lâu đài kề nước;
Hoa cỏ hướng dương.

Thược dược khéo mười phần tươi tốt;
Mẫu đơn khoe hết bực giàu sang.

Hây hây ngõ hạnh, tường đào, quanh nhà thái tổ;
Thay thảy đường hoè, dặm liễu, hóng gió thiều quang.

Má hồng điểm thức yên chi, đầy vườn hạnh, xem bằng quốc sắc;
Quần lục đượm mùi long não, dãy tường lan, nức những thiên hương.

Lại có nơi:
Tiện nẻo vãng lai;
Ra nơi thành thị.

Tán đầu khăn hợp khách bốn phương;
Xe dù ngựa dong đường thiên lý.

Đủng đỉnh túi thơ, bầu rượu, nặng cổ thằng hề;
Dập dìu quần sả, áo nghê, dầu lòng con tí.

Diên đồi mồi, châu châu, ngọc ngọc, nhiều chốn phồn hoa;
Viện thu thiên, ỷ ỷ la la, mười phần phú quý.

Xem phong cảnh chỉn đã khác thường;
Gẫm tạo vật thật đà có ý.

Thửa mắc:
Trời sinh chúa thánh;
Đất có tôi lành.

Xem ngôi kiền đòi thời mở vận;
Phép hào sư lấy luật dụng binh.

Đất tam phân có thửa hai, chốn chốn đều về thanh giáo;
Nhà bốn bể vầy làm một, đâu đâu ca xướng thái bình.

Chín lần nhật nguyệt làu làu, cao đường hoàng đạo;
Nghìn dặm sơn hà chễm chễm, khoe thế vương thành.

Hình thế ấy khen nào còn xiết;
Phong cảnh này thực đã nên danh!

                                      Nguyễn Hãng

(Phần tiếp là thơ Tự Do)

                                 

XEM BÀI TRƯỚC XEM BÀI SAU TRANG CHỦ