29. Thơ tự do: Khi mới xuất hiện, có người chê là “thơ buông”. Thơ tự do thuộc dòng thơ Mới (1932 - 1945). Trước đó, thi sĩ Tản Đà từng cách tân trong một số bài thơ của mình theo lối thơ tự do (thơ Mới), như bài: “Cảm thu - Tiễn thu”. Ngay dưới đầu đề bài thơ, Tản Đà ghi: “Tháng chín năm Canh Thân - 1920”.
Xin trích nguyên văn bài viết “Phong trào Thơ mới, muốn cùng ai trong bạn
làng thơ”:
“...Từ vào thu tới nay / Gió thu hiu hắt
/ Sương thu lạnh / Trăng thu bạch / Khói thu xây thành / Lá thu rơi rụng đầu
ghềnh / Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly / Nhạn về...”
“Mấy câu đó riêng tôi thật ngẫm mãi không chán. Mà bài văn đó tới nay ở báo
Sài Gòn lại có người đưa ra phê bình, khi cái thời gian tôi viết ra vào khoảng
1921, lúc tôi làm việc cho báo Hữu Thanh cách đây 14 năm. Lại như bài thơ “Hoa
rụng” in ra ở Khối tình con, lời văn rằng:
Hoa ơi, hoa hỡi, hoa hời!
Đang ở trên cành bỗng chốc rơi
Nhị mềm cánh úa hương nhạt màu phai
Sống chửa bao lâu đã hết đời
Thế mà hoa lại sướng hơn người...
Bài này viết ra cách đây có tới 21 năm. Những điệu thơ đó thật tự tôi đặt
ra, không theo niêm luật ở đâu hết, duy tôi không gọi nó là ‘Thơ mới’ mà thôi.”
(Tiểu thuyết thứ Bảy, 30-11-1934 - dẫn theo Tuyển tập Tản Đà).
Xem như vậy, Tản Đà là người “đã dạo những bản đàn mở đầu” (Hoài Thanh -
Hoài Chân) cho phong trào thơ Mới trước đó trên mười năm. Thơ Mới là một “khát
vọng cởi trói cho thi ca, chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u
uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đau đớn...”
(Hoài Thanh - Hoài Chân). Phong trào thơ Mới làm nên những tên tuổi lớn: Thế
Lữ, Phạm Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên,
Tế Hanh...
Thơ tự do không có phương thức cụ thể, mỗi người làm thơ hay mỗi bài thơ,
có một cách thể hiện riêng biệt. Ví dụ:
“Một ít nắng, / Vài ba sương / Mỏng thắm
/ Mấy cành xanh / Năm bảy sắc / Yêu yêu / thế là xuân / Tôi không hỏi / Chi nhiều / xuân đã sẵn
/ Trong lòng tôi / Lai láng...” (Xuân Diệu)
Thơ Đường luật làm được hay đã khó, nhưng thơ tự do làm cho hay cũng không
dễ. Một nhà thơ phương Tây, Thomas
Stearns Eliot (Mỹ) - giải Nobel Văn học 1948, nói đại ý rằng:
“Những người làm thơ nghiêm túc thì chẳng ai coi bất cứ thể loại nào là tự do”.
Báo chí, các nhà nghiên cứu và người yêu thơ thường gọi phong trào thơ 1932
- 1945 là Thơ mới. “Mới”,
vì nó thoát khỏi niêm luật bó buộc của thơ Đường một chút thôi, còn câu chữ vẫn
“đầy ắp vần điệu của dân tộc” (Trần
Mạnh Hảo). “Mô típ của Đường thi vẫn còn níu kéo các nhà thơ trong phong
trào Thơ mới lắm” (Ngô Văn Phú).
Theo tìm hiểu của chúng tôi, các nhà thơ tên tuổi dòng thơ Mới không mấy ai
phóng bút quá mười tiếng trong một câu thơ. Trong Thi nhân Việt Nam,
Hoài Thanh - Hoài Chân giới thiệu Xuân Diệu đến 13 bài thơ, duy nhất trong bài
“Vội vàng” có một câu mười tiếng: “Cho
chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng”. Còn lại đều
không quá bảy, tám tiếng trong mỗi câu. Thơ Mới giai đoạn đó “mới” ở cách giãi
bày phong phú mọi tâm trạng tình cảm riêng, thể hiện được nỗi trăn trở trước
sự tù túng của lớp trí thức Tây học; cách viết bài thơ dài ra và không chia khổ
nhất định.
Đến kháng chiến chống Pháp, các tác giả như Trần Mai Ninh, Nguyên Hồng, Chính Hữu, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Hoàng Trung
Thông, Nguyễn Đình Thi... viết câu thơ ngắn dài vô tư, phóng túng về vần
điệu. Lối viết này từng bị Xuân Diệu phê phán tại Hội nghị tranh luận Văn nghệ
ở Việt Bắc tháng 9 năm 1949. Tiêu biểu là thơ không vần của Nguyễn Đình Thi lại
được nhà văn Nguyên Hồng đứng ra bênh vực rằng: “Dân tộc ta nhiều bản năng. Thơ cần đi qua rất nhiều rung cảm khác nhau
trong một bài... Tôi nói nó là một cần dùng, một sự tất yếu... Tôi tin sẽ có
những bài thơ kỳ diệu của dân tộc ở trong loại thơ đó...” (dẫn theo nhà
thơ Vân Long).
Và sau này, Nguyên Hồng đã sáng tác một số bài thơ thể tự do khá hay
như: Cửu Long Giang ta ơi, Hồng Hà tên con sông yêu dấu, Hoàng Hoa Thám quê
hương... Ngoài bộ tiểu thuyết đồ sộ Cửa biển, các tác
phẩm Bỉ vỏ, Núi rừng Yên Thế, Những ngày thơ ấu… với một loạt nhân
vật như Tám Bính, Năm Sài Gòn, Người đàn bà Tàu, mẹ La, anh Tô, Gái Đen, cậu
Khóa, anh hùng Đề Thám… là “những hình tượng văn học ghi dấu ấn sâu đậm và sống
lâu bền trong lòng bạn đọc...” (Lê
Quang Trang).
Nguyên Hồng còn góp cho thi ca nước nhà tập thơ Trời xanh, tuy
mỏng, chưa đầy mười bài nhưng chứa nhiều cảm xúc mới mẻ, đậm chất hùng ca hiện đại,
hoành tráng. Nhiều câu, nhiều bài đã găm sâu vào trí nhớ người đọc:
“Lan hoang dứa mật thông nhựa lên
hương
Những trưa hè ngùn ngụt nắng Trường Sơn
Ngẫm nghĩ voi đi
Thác Khôn cười trắng xóa...”
“Những câu thơ của nhà văn này là niềm ao ước của nhiều nhà thơ chuyên
nghiệp” (Vân Long). Bùi Ngọc Tấn lại
khái quát bản chất thuộc tính cố hữu về thơ Nguyên Hồng: “Nguyên Hồng là tác
giả những bài thơ có thể làm bất kỳ nhà thơ nào ghen tỵ” (Một thời để mất).
Từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, một số cây bút, cả trẻ lẫn già, xướng
xuất việc đổi mới, “đổi gác”, thậm chí cả đòi “cởi trói” cho thơ (ai trói?).
Phái trẻ thì hăng hái sáng tác thứ thơ họ gọi là siêu thực, siêu hình, tượng
trưng. Thơ họ “phá bỏ tính logic của sự vật và hình tượng; thơ siêu thực không
được chấp nhận còn do câu “thơ” quá tự do, phóng túng. Tự do, phóng túng tới
mức không cần tính chắt lọc về ngôn ngữ - vốn là đặc trưng của thơ; không cần
cả tính kế thừa - một trong những quy luật cơ bản của nghệ thuật...” (Lê Quý Kỳ
- Lại bàn về thơ siêu thực - báo Người Hà Nội số 33, ngày
18/8/2001).
Phái già thì hăng hái cổ xúy. Ngôn ngữ thơ họ diễn đạt như muốn phá bỏ tính
quy luật của tu từ tiếng Việt. Một lối biểu cảm ngôn từ thiếu bản sắc dân tộc,
câu thơ rời rạc, ngắt quãng, từ ý này đột ngột chuyển sang ý khác theo kiểu
“đầu Ngô mình Sở”, vụn vặt, loạn chữ nghĩa, rập khuôn, giẫm lên chân nhau.
Nhiều bài thơ, câu thơ xơ cứng, thiếu sắc thái riêng, cố làm cho lạ nhưng lại
hóa sáo rỗng, nghèo nàn những vấn đề cuộc sống. Mà con người - vốn luôn là điều
quan trọng nhất để thơ ca khai thác - thì lại bị bỏ qua.
Đồng ý rằng thơ mang tính dàn trải, mông lung, ảo thực, không giới hạn dòng
suy nghĩ, nhưng cũng không thể nói nhiều mà người đọc chẳng cảm thụ được bao
nhiêu như đoạn thơ sau đây:
“Những luống hoa mới trồng. Vàng lẫn vào
trắng. Một ấn tượng lem luốc ập vào mắt, ứa ra một cảm giác bội thực.
Những con khỉ nhảy nhót. Chuồng có chóp tròn giống ngôi đền Hồi giáo. Để
giảm áp chứng bội thực, khoa học nhân bản đã chế một loài biệt dược có tên là
đức tin. Không biết ở siêu thị đã trưng bày sản phẩm này chưa? Nó tương tự
Viagra cho cơ thể tinh thần.
Khỉ đực khỉ cái khỉ cháu khỉ chắt khỉ nội khỉ ngoại... cùng nhao lên với mía
bắp đậu bánh mì thừa bố thí qua môi giới miễn phí của những ngón tay trung
tính. Một vài con vẻ đầu lĩnh thản nhiên. Còn tất cả họ nhà khỉ đều xúm lại.
Người lớn và trẻ con hởi dạ. Mặt giãn ra. Sướng run đầu gối. Nhón ném lóng
mía cho con khỉ nhỏ. Nó đang ngơ ngác chưa dám nhặt. Một con đầu lĩnh bất ngờ
lao xuống chụp luôn cả bịch tót lên cây. Khỉ con dạn dĩ khi cúi xuống nhặt
những cái bã do những khỉ lớn thải ra.
Một cú pháp hoang dã hoành hành sách giáo khoa.
– Đi bố. Con khỉ đó xấu. Con ghét nó!
– Khỉ nào chả vậy.
– Nhưng con ghét nó!
– Không nên can thiệp vào nội bộ người ta. Luật của động vật mà. Cho chúng
ăn để con vui.
– Sao nó giành phần của khỉ con?
– Khi no chúng không giành nhau nữa.
– Tội nghiệp khỉ con quá bố!
– Nó phải chịu cho đến lớn rồi cũng chẳng khác gì con khỉ vờ thản nhiên kia.
Sau khỉ í a à rái cá í a à gấu í a à đà điểu”...
(N.Q.C)
Cả sự dung tục:
“Nhà thơ cười ha hả... rồi ân ái
chị Hằng
Có về chăng câu chữ lang thang
Câu chữ ly thân thơ ai nỡ kéo ghì ức hiếp
Hình dung quặt quẹo quỷ ma chẳng thể nào phụ sản điều hòa
Thời gian bất giác ú oà”...
“Mở choàng mắt
Trăng ứa giọt trăng nhòm đau đáu
Hênh hếch chân em nuột nà ngang ngực
Ngã ba yêu hấp hé nụ tình”.
(NCB)
“Nếu phải gọi đó là thơ thì phải để nó trong ngoặc kép” (Lê Quý Kỳ).
Còn tiếp
