Vẫn biết
người sáng tác văn chương là người làm công việc thầm lặng cô đơn, cô đơn với
niềm hào hứng của tâm hồn. Cũng đừng vì sự cô đơn sáng tạo mà làm khổ người
đọc, người nghe bằng thứ thơ bí rì hũ nút. Cố tạo những câu thơ phức tạp, đã dài
lê thê, khấp kha khấp khểnh còn dung tục, ông chẳng bà chuộc, ý tứ, hình tượng
thó từ tiểu thuyết Tây, vay ở phim Mỹ... đem xào xáo, rán, quay bày lên mâm
tiệc thơ. Ví mắt, mũi, mồm người yêu như mắt, mũi, mồm bò cái! Tả tình yêu sấn
sổ, hôn hít điên cuồng cuống quýt rồi ngộ nhận là lạ, là hiện đại, là mới. Mới
chẳng thấy đâu, chỉ thấy bị người đọc thờ ơ, vì rằng nó kém thái, non thần, lại
quá ư lạm phát, và nhạt nhẽo! Gần đây có một tác giả trẻ giải thích trên truyền
hình vể những câu thơ khó hiểu của họ: “Viết
về nụ hôn, tôi không muốn tả thẳng, bời vì đã có quá nhiều người tả đủ các kiểu
về nụ hôn rồi. Tôi phải nung nấu tìm tòi để tả cho ấn tượng về nụ hôn”. Và họ tả: “Cài then anh, cài then em…
và bài thơ đó đã được phổ nhạc, rất nhiều người yêu thích”?…
Xin thưa!
Tiếng hôn mang ý nghĩa khác, hai tiếng “cài then” mang ý nghĩa khác, sao lại
muốn người đọc hiểu: Hôn nhau là cài then (cửa) được? Từ điển tiếng Việt của nhóm
soạn giả gồm 18 người, do giáo sư Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nẵng in
năm 1997 lần thứ 5 (đợt 2) 30.410 mục từ, trang 100, từ CÀI được giải thích như
sau: “Cài: Làm cho một vật nhỏ nào đó mắc vào vật khác. Cài huy hiệu. Cửa đóng
then cài…”. Về tiếng hôn, trang 445 từ điển trên dẫn giải như sau: “áp môi hay
mũi vào để tỏ lòng yêu thương, quý mến. Mẹ hôn con…”. Trong ca dao các cụ ta
xưa từng “hiện đại hoá” nụ hôn bằng “nụ” THƠM rất ấn tượng. Xét về ý nghĩa
động tác, thơm khá gần với động tác hôn. Hái bông hoa, để biết bông hoa thơm
mức nào thì ta ghé mũi vào, động tác đó khá gần với việc hôn nhau. Việc cài
then cửa hoàn toàn làm bằng tay, không dính dáng đến mũi và môi, sao gọi là hôn
được?
“Sau phút giây/ Êm đềm trên ghế đá/ Anh không
cài lại khuy áo ngực cho em”… (thơ Dư Thi Hoàn) cũng là câu thơ hay.
Sáng tạo không đồng nghĩa với làm khổ độc giả bằng thứ
ngôn từ “hũ nút”. Văn chương dù mới mẻ đến đâu cũng cần sự kết nối và đồng điệu
tâm hồn, chứ không phải là một mê cung chữ nghĩa. Vay mượn hình ảnh, lối sống
phương Tây một cách sống sượng như ví mắt người yêu với mắt bò cái mà quên mất
thẩm mỹ và phong vị riêng của tiếng Việt. Mải mê chạy theo hình thức “lạ” mà
quên mất “chất” và “thần” của tác phẩm.
“Thơ là một cõi tâm linh dẫn dắt con người
vươn tới cái đẹp, cái an bình nội tại khi ta phải đối mặt với bao biến động,
bất trắc. Thơ cần thiết cho tâm hồn như vậy, nhưng hình như càng ngày thơ càng
bị mất đi cái ý nghĩa linh thiêng mà thơ vốn có” (Ngọc Phượng, nhà thơ,
biên tập viên chính báo Văn Nghệ Sóc Trăng). Những người quan tâm đến lĩnh vực
thơ có những ý kiến khác nhau về thơ cách tân, thơ siêu thực, siêu hình hiện
nay, chung nhất vẫn là chê, chê vì nó chưa hay. Thấy dư luận bức xúc quá có
người khuyên hãy bình tĩnh chờ xem. Vâng, chờ ngót mười năm trời rồi nào thấy
hình hài bóng dáng gì đâu? Thỉnh thoảng lẹt đẹt tiếng vỗ tay cổ vũ tập thơ này,
tập thơ kia có khới sắc. Người yêu thơ hào hứng mở ví không ngần ngại để có một
tập đọc xem ở đó “khởi sắc” đến mức độ nào? Tiếc thay, vẫn cứ ra đường là gặp
bố con ông Y Văn Nguyên, “ú tim/ Em đi
tìm/ Tôi đi nấp” (thơ Lê Đại Thanh). Thơ mười năm trở lại đây có đốt đuốc
đi tìm lấy một bài thơ hay cỡ như Tây Tiến, Đầu súng trăng treo, Nhớ, Đất nước,
Bên kia sông đuống, Màu tím hoa sim, Cuộc chia ly mầu đỏ, Lời ru với anh... bói
không ra? Tình trạng “Ai có tiền in sách là thành nhà thơ. Số lượng tập thơ
tăng, tới tám chín trăm tập/ năm, nhưng tập đọc được chỉ khoảng 1% số đó” (Vũ
Quần Phương - Thơ và phê bình thơ, báo Thơ số 4 tháng 10/ 2003 ).
“Thơ đăng báo là thơ phục vụ cho độc giả, mà độc giả của chúng ta là ai? Đó
là công chức, học sinh, công nhân, thậm chí cả nông dân... Cái được của thơ
trước tiên là sau khi đọc, độc giả phải hiểu bài thơ nói gì, chứ chưa nói tới
giá trị của bài thơ: cái đẹp nghệ thuật, tầm tư tưởng và sự đóng góp cho cuộc
sống. Có những tác giả thơ vụng về, “đội lốt” người làm thơ để mã hoá ngôn ngữ,
câu cú, tạo cho mình cái gọi là tầm suy tư vĩ mô về vũ trụ, cuộc đời... “Bậy”
hơn thế, có những tác giả mới thoát khỏi tuổi vị thành niên, độ tuổi chưa đủ
chín để nhìn mình, nhìn cuộc sống lại nông cạn tưng tửng những từ ngữ, cái mà
tác giả cho là thơ để ý rằng ta bứt phá, ta muốn “lột” cái “buồng the” của con
người ra đây. Và “thảm thương” thay khi tác giả này lại được tung hứng, sự tung
hứng lấy làm đáng tiếc từ chính vài nhà thơ có tầm” (Vương Vương, “Thơ ngày
nay, cái tôi thế sự đi đâu?” Báo Văn Nghệ số 46 ngày 17/ 11/ 2001).
Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên... bước vào đường thơ đúng giai đoạn thơ Mới
cần thay thơ cũ, vì nó đáp ứng đúng nhu cầu thời đại. Các ông đã bắt nhịp kịp
thời và khẳng định mình ở tuổi 17 - 25; các ông đều đạt thành tựu. Đổi mới, làm
mới thơ bất cứ ở vào thời điểm, giai đoạn nào cũng là cần thiết. Ngày xưa, bây
giờ và cả sau này, đã là thơ luôn luôn cần phải mới. Ngay các nhà thơ đã hay
rồi vẫn cần phải hay hơn nữa, luôn phải tự làm mới chính mình: bài thơ sau phải
hay hơn bài thơ trước, tập thơ sau cần phải hay hơn tập thơ trước, chẳng ai đi
ca mãi một giọng thơ cũ mèm.
Một đại diện trong số người làm thơ trẻ hùng hổ tuyên bố: “Thơ cũng như con
người, có quyền chơi các kiểu trên mọi nẻo đường đối thoại với cái chết và sự
phục sinh”. Họ khuyên nhau: “Không nên mặc quần cho ngôn ngữ (thơ)”! Hãy xem họ
“lột truồng” ngôn ngữ thơ: “Những đám mây
hành kinh trời xa, vòm xanh quần lót” (VCH).
Chủ nghĩa Vị lai ở nước Nga vào những năm 1910 – 1915 (thế kỷ XX), có lúc
họ đã cuồng nhiệt tuyên bố cho “Cái tát vào nền văn hóa cận đại” Nga. Họ dự
đoán thế giới văn minh công nghiệp đang tiến tới: tàu bay, tàu ngầm, nhà cao
tầng, vệ tinh, tàu vũ trụ, xe đệm từ, công nghệ tin học, vô tuyến truyền hình…
sẽ thay cho cái đẹp thiên nhiên, thay cho cái đẹp mùa thu vàng, thay cho vầng trăng
lãng mạn, thay cho rừng bạch dương trắng tuyết nước Nga. Họ đe vứt Pushkin,
Dostoyevsky, Gogol, Tolstoy, Chekhov... ra khỏi con tàu hiện đại của họ. Nhưng
họ đã bị Mayakovsky - một người cũng thuộc nhóm Chủ nghĩa Vị lai - phản bác lại
bằng trường ca “Đám mây mặc quần”, tác phẩm có hơi hướng “Vị lai” nhưng vẫn
mang tính nhân đạo của chủ nghĩa hiện thực lúc đó. Từ sau Cách mạng Tháng Mười
Nga, toàn bộ sáng tác của Mayakovsky đã chuyển hẳn sang hiện thực xã hội chủ
nghĩa.
Vậy mà cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, một nhà thơ trẻ Việt Nam không biết
tài cán cao đến mức nào mà dám ngang nhiên “lột quần” những đám mây ngay giữa
trời mà thay “hành kinh”? Thì thật kinh khủng khiếp!
“Thơ đích thực không phải để tung hô,
không cần sự tung hô. Tung thì tung bóng thôi chứ! Đá bên này một cái, sút bên
kia một cái. Tung thơ dễ đột quỵ lắm” (Hoàng Nhuận Cầm, báo Tiền Phong Chủ
nhật số 5, ngày 1 tháng 2 năm 2004).
Có tác giả được hiểu là thành danh theo lối thơ siêu thực, siêu hình, nhưng
bài thơ thật hay được nhiều người yêu thơ bình luận trên các báo lại không phải
là thơ siêu thực, siêu hình. Bài thơ hay của họ lại rơi vào những bài làm theo
thể thơ truyền thống dân tộc với giọng điệu mượt mà hồn quê. Đó là sự lúng túng
của họ. Họ đành phải than thở với nhau: “Tôi
với ông rồi sẽ cô đơn lắm, chẳng ai hiểu chúng ta cả” (dẫn theo Lê Quý Kỳ).
GS.TS Mai Quốc Liên - người vừa sáng tác vừa giảng dạy văn học tại TP.HCM -
nhận xét trong một hội thảo gần đây: “Thơ
trẻ đang có vấn đề. Phải thấy mặt nào có tìm tòi cách nói; nhưng rối rắm, tục
tĩu hoặc nhân danh hiện đại đều không ăn thua, vì không hay, vậy thôi”.
Môn nghệ thuật nào cũng có đặc tính riêng, nhưng phải mang tính tích cực,
tính văn hóa và tính nhân văn cao cả. Chớ “treo đầu dê bán thịt chó” (hoặc
“treo đầu bò bán thịt trâu”), người “máu lạnh” không ăn được thịt trâu, cố
“xực” sẽ bị đầy bụng. Bước vào năm thứ tư của thế kỷ XXI rồi, nhịp sống thế kỷ
21 đang khởi động rất mạnh trên toàn đất nước rồi đó.
Hỡi thơ!
Còn tiếp
