30. Thơ xướng họa (phần này chỉ giới thiệu những điểm chính):
Trong lúc trà dư tửu hậu, khi hứng thú, người làm thơ xướng lên bài tứ tuyệt, bài thất ngôn bát cú hoặc một bài theo thể thơ khác, rồi mời bạn thơ họa lại ngay bên mâm tiệc cho cuộc rượu thêm vui, thêm đậm đà ý vị. Thơ xướng họa thường lấy một sự kiện nào đó làm đề tài, cũng có khi vì đọc một bài thơ của bạn bè thấy tâm đắc mà đem họa lại.
Trong thơ họa, điều cốt yếu là phải họa đúng vần của bài
xướng, không được làm khác vần. Các tiếng hiệp vần (tiếng thứ 7 của các câu 1,
2, 4 trong thơ tứ tuyệt; hoặc tiếng thứ 7 của các câu 1, 2, 4, 6, 8 trong thơ
bát cú) không được trùng chữ với bài xướng. Người họa phải xem
các vần trong bài xướng có vần nào khó (hiểm vận) để tìm chữ trước. Nếu không
thể họa đúng vần, có thể chuyển thể thơ (từ bằng sang trắc hoặc ngược lại) cho
phù hợp với nội dung nhưng vẫn phải tôn trọng nguyên tắc đối đáp.
Ví dụ xướng họa trong thơ tứ tuyệt:
Bài xướng:
Hoa bùa mê
“Ong hỡi bay đi có biết về?
Hay là hoa đã bỏ bùa mê?
Ba sông, bốn núi say hương lạ
Đõ trống, thềm hoang lạnh tứ bề.”
(Thân Đức Thi)
Bài họa:
“Đến cõi ai ai cũng phải về,
Ngủ trong lòng mẹ dứt hồn mê.
Bon chen danh lợi đều vô nghĩa,
Huyệt mộ lấp xong hết mọi bề.”
(Quang Minh)
Xin phân tích:
1. Về nội dung và tư tưởng
Bài Xướng (Thân Đức Thi): Mượn hình ảnh con ong say hoa để nói về cái “mê” của
con người trước trần thế. Tác giả đặt câu hỏi đầy cảm thán về việc liệu người
ta có biết lối “về” hay đã quá chìm đắm trong “hương lạ” (danh lợi, sắc dục...)
đến mức để mặc “thềm hoang lạnh” (sự cô đơn, tàn tạ của tâm hồn).
Bài Họa (Quang Minh): Đáp lại bằng một cái nhìn thực tế và có phần nghiệt ngã hơn. Tác giả
khẳng định cái “về” cuối cùng của mọi kiếp người chính là cái
chết (huyệt mộ). Mọi sự bon chen, mê muội ở đời đều trở nên vô nghĩa khi con
người nằm xuống.
2. Về niêm luật và kỹ thuật họa
Thể thơ: Cả hai đều viết
theo thể Thất ngôn tứ tuyệt, luật Bằng, vần Bằng.
Cách họa: Đây là cách
họa “Nguyên vận” (giữ nguyên các chữ hiệp vần ở cuối câu 1, 2,
4 là Về - Mê - Bề).
Ưu điểm: Bài họa đối ứng
rất tốt về mặt ý tưởng. Nếu bài xướng hỏi “có biết về?”, bài họa trả lời “ai ai
cũng phải về”. Sự kết nối này tạo nên một cuộc đối thoại tư tưởng chặt chẽ.
3. Một vài nhược điểm nhỏ về luật thơ (nếu khắt khe)
Trùng chữ: Trong luật họa
thơ Đường khắt khe, người họa nên tránh dùng lại đúng chữ của
bài xướng mà chỉ nên dùng lại vần. Ở đây, bài họa dùng lại y hệt
các chữ Về, Mê, Bề. Tuy
nhiên, trong lối họa “họa nguyên vận” dân gian hoặc giao lưu bạn bè, việc này
vẫn rất phổ biến để nhấn mạnh sự đồng điệu.
Lỗi nhịp và từ ngữ:
Câu 1 bài họa: “Đến cõi ai ai cũng phải về” hơi bị dư từ “ai”, nếu
sửa thành “Cõi tạm ai ai cũng
phải về” hoặc “Đã
đến trần gian ắt phải về” sẽ uyển chuyển hơn.
Câu 4 bài họa: Chữ “hết” là trắc, đứng ở vị trí chữ
thứ 5 trong câu 4 (luật Bằng) là đúng, nhưng về nhạc điệu thì hơi khiên cưỡng.
Tóm lại:
Đây là một cặp thơ xướng họa rất có chiều sâu về đạo lý. Bài xướng khơi gợi
sự thức tỉnh, bài họa chốt lại bằng sự buông bỏ.
Xướng họa thơ bát cú
Bài xướng:
Ngày xuân tương tư
“Trách cái tằm xuân nhả mối tơ,
Làm cho bối rối mối tương tư.
Sương mù mặt đất, người theo mộng
Nhạn lảng chân trời, kẻ đợi thư.
Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy
Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa.
Tương tư một mối hai người biết
Ai đọc thơ này đã biết chưa?”
(Tản Đà)
Bài họa:
“Trách quẩn con tằm với sợi tơ,
Nhớ ai mà lắm nỗi sầu tư?
Muốn đi tửu quán chừng không bạn
Ngó lại văn đàn cóc có thơ!
Tóc bạc đã nên ông cụ thể
Đầu xanh còn nhớ bạn tình xưa.
Thuyền nan sông cái con tàu bể
Bờ bến nào đâu đã đến chưa?
(Tản Đà họa lại chính
mình)
Thơ
xướng họa của anh em nhà thơ Vũ Cao
Bài
xướng:
“Ông lơ mơ, ông chỉ lơ mơ
Tết đến sau lưng ông biết chưa
Vứt cái nghiên đi, tìm chĩnh gạo
Thu ngòi bút lại, kiếm đồng xu
Câu văn đã dẻo đâu bằng bánh
Thịt mỡ còn thơm gấp mấy thơ
Chữ nghĩa chẳng mài ra Tết được
Trời ơi tôi cám cảnh nhà nho.
(Cối Vị
Vũ Văn Tộ)
Bài
Họa:
“Tôi lơ mơ, tôi chỉ lơ mơ
Tết
đến thì sao, rõ chán chưa
Nghiên
vẫn đeo đai thì có gạo
Bút
còn dán díu chẳng cần xu
Thịt
ăn nặng xác thêm lòng tục
Pháo
nổ vang trời át tiếng thơ
Dễ
chỉ loanh quanh rồi lắm chuyện
Cũng
đòi mang tiếng vợ nhà nho.”
(Vũ Hữu Chỉnh, tức
Vũ Cao)
Xướng họa trong thơ lục bát
Thơ lục bát có hai cách họa: họa cả hai vần (vần chân
và vần lưng) hoặc chỉ họa một vần chân.
1. Cách họa cả vần chân và vần lưng
Bài xướng:
Rau sắng chùa Hương
“Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Tiền đò ngại tốn con đường ngại xa.
Mình đi, ta ở lại nhà
Cái dưa thời khú cái cà thời thâm.”
(Tản Đà)
Bài họa:
“Kính dâng rau
sắng chùa Hương
Đỡ ai tiền tốn con đường đỡ xa.
Không đi thì ở lại nhà
Thay cho dưa khú cùng cà muối thâm.”
(Đồ
Tang Nữ
2. Cách họa một vần (vần chân)
Bài xướng:
Không
đề
“Gửi cho ai một thoáng buồn
Để cùng chia buổi hoàng hôn nhạt nhòa
Gửi cho ai chút chia xa
Để cùng trải nỗi canh gà cô liêu
Gửi cho ai sợi nắng chiều
Bắc cầu Ô Thước đón Kiều sang quê
Gửi cho ai một tiếng ve
Để hoa phượng nở, quyên về hát ru
Gửi cho ai giọt mưa thu
Nỉ non thánh thót như ru lá vàng
Gửi cho ai phút đông sang
Hàng mi sương trĩu mơ màng chờ xuân
Gửi cho ai tiếng chuông ngân
Chiều hè tím dải mây Tần… gửi ai!”
(Thái
Hồ)
Bài họa:
Nhận
“Nhận cho mới
biết nhận buồn
Cho rồi người giội mưa tuôn xóa nhòa
Đường gần đổi quãng đường xa
Đêm nằm nghe rộn tiếng gà tịch liêu
Nhận trưa để biết đã chiều
Vượt qua cầu vượt đánh liều xa quê
Nhận… ong chưng hửng hóa ve
Phượng hồng thắp lửa trưa hè rín ru
Nhận hạ mới biết rằng thu
Nhận thu mới biết thu ru lá vàng
Cầm chèo định đẩy thuyền sang
Dòng sông chảy xiết, chợt bàng hoàng xuân
Tay cầm nửa khúc ve ngân
Góp gom biết ghép mấy vần… tặng ai?”
(Hoàng Xuân Họa)
Cặp bài xướng - họa “Gửi” và “Nhận” của
Thái Hồ và Hoàng Xuân Họa là một ví dụ rất hay về sự đối đáp đồng điệu trong
thể thơ lục bát. Dưới đây là những điểm nổi bật về cặp bài này:
1. Về kỹ thuật họa vần (Họa chân vận)
Đúng như tiêu đề đưa ra, bài họa của Hoàng Xuân Họa
đã tuân thủ nghiêm ngặt việc họa vần chân của bài xướng. Các
từ hiệp vần ở cuối câu lục và câu bát được giữ nguyên hoặc dùng từ đồng vần:
Vần bài xướng: buồn - nhòa - xa
- liêu - chiều - quê - ve - ru - thu - vàng - sang - xuân - ngân - ai.
Vần bài họa: buồn - nhòa - xa -
liêu - chiều - quê - ve - ru - thu - vàng - sang - xuân - ngân - ai.
Việc giữ nguyên bộ vần này (họa nguyên vận) giúp bài
họa bám sát cấu trúc của bài xướng, tạo nên một sự kết nối chặt chẽ về âm điệu.
2. Sự đối ứng về nội dung (Gửi và Nhận)
Đây là điểm thú vị nhất của cặp bài này:
Bài
xướng của (Thái Hồ): Là lời bày tỏ, muốn trao đi những
cung bậc cảm xúc của bốn mùa (buồn, chia xa, nắng chiều, tiếng ve, mưa thu,
sương đông...). Mỗi khổ thơ đều bắt đầu bằng cụm từ “Gửi cho ai”, tạo cảm giác
tha thiết, mong cầu sự thấu cảm.
Bài họa của
(Hoàng Xuân Họa): Là lời đáp, sẵn lòng đón lấy. Tác giả dùng từ “Nhận” để
đối lại từ “Gửi”. Nếu người gửi trao đi cái “buồn” thì người nhận thấu hiểu cái
“buồn” đó; nếu người gửi nhắc đến “mưa thu” thì người nhận đáp lại bằng cảm
giác của “thu ru lá vàng”.
3. Hình ảnh và ý nghĩa
Cặp bài thơ dắt người đọc đi qua vòng
quay bốn mùa (Xuân, Hạ, Thu, Đông) và các điển tích (cầu
Ô Thước, Thúy Kiều, mây Tần).
Bài xướng mang tính chất khởi
xướng, gợi mở, còn bài họa mang tính chất chiêm nghiệm, phản hồi.
Ví dụ: Bài xướng gửi “sợi nắng chiều” để bắc cầu, bài họa đáp lại bằng việc
“đánh liều” vượt qua cầu để đến với nhau.
4. Nhận xét chung
Cấu
trúc: Rất chỉn chu, niêm luật lục bát chuẩn xác.
Cảm xúc: Nhẹ nhàng, hoài niệm và đầy chất tự sự. Đây không chỉ là họa thơ mà
còn là họa cái “tình”, cái “ý” của những tâm hồn đồng điệu.
*****
Sau
đây là bài xướng của nhà thơ trào phúng Tú
Mỡ và bài họa của nhà thơ trữ tình Tản Đà.
Chất trào lộng của thi sĩ Tản Đà cũng chẳng kém gì thi tài trào phúng Tú Mỡ.
Hai bài xướng, họa đều theo thể thơ Song thất lục bát rất đắt vần,
đắt ý, thuộc hàng hay bậc nhất trong những giai thoại thơ xướng họa trên thi
đàn Việt Nam thời kỳ Phong trào thơ Mới thế kỷ 20.
Bài xướng:
Tản Đà cốc
tử
(Gửi bác Hiếu - Tản Đà)
Nghe đồn bác Hiếu - Tản Đà,
Mở hàng lý số tỉnh nhà nay mai.
Chừng bác thấy lắm ngài “lốc cốc”,
Chỉ chuyên môn nói róc ăn tiền.
Tán hươu tán vượn huyên thuyên,
Nói thánh nói tướng như tiên như thần.
Nghề bẻm mép kiếm ăn cũng
dễ,
Chẳng khổ như cái nghệ làm văn.
Lao tâm trí, tổn tinh thần,
Nhà thơ vắt óc tìm vần gọt câu.
Lắm lúc bí, gan rầu ruột thắt,
Thức thâu đêm mỏi mắt phờ râu!
Nhọc nhằn ai biết công đâu,
Để cho thiên hạ giải sầu mua vui.
Nghề thơ chẳng đủ nuôi thi sĩ,
Nên bạn tôi phải nghĩ đường xoay.
Nhà nho chữ tốt văn hay,
Thời khoa lý số hẳn tay cũng tài.
Vả xưa đã dùi mài Kinh
Dịch,
Báo An Nam chú thích tinh tường.
Ngày nay đoán việc âm dương,
Hẳn không hổ phụ như phường ba hoa.
Nào hãy đến Tản Đà cốc tử,
Quẻ càn khôn hỏi thử xem sao.
Xem tài thầy thấp hay cao,
Mười câu họa có câu nào sai chăng?
Dù thầy có tán nhăng tán cuội,
Nghe nhà thơ lời nói văn hoa.
Nhất khi rượu đã khề khà,
Tán đâu ra đấy đậm đà có duyên.
Thời khách mất đồng tiền
đặt quẻ,
Cũng vui tai và sẽ vừa lòng.
Nhưng xin thầy chớ “nói ngông”!
(Nguyên bài xướng của Tú Mỡ)
Bài họa:
Họa lại bài “Tản Đà cốc tử” của ông Tú Mỡ
Nghe ai bỉ báng Tản Đà,
Báo chương lên tiếng tỉnh nhà mỉa mai.
Ừ! Tớ vẫn học tài Quỷ Cốc,
Nhưng chẳng hay nói róc lấy tiền.
Thiên lương chưa bén duyên thiền,
Rượu thơ còn vẫn chén tiên câu thần.
Cuộc trần thế kiếm ăn chẳng dễ,
Rẻ rúng thay cái nghệ làm văn!
Thâu đêm hao tổn tinh thần,
Đèn xanh chiếc bóng xoay vần từng câu.
Nào ai biết gan rầu ruột thắt,
Thế mà sao mỏi mắt cùn râu?
Nỗi niềm thực thế vì đâu?
Quá thương cất chén gượng sầu làm vui.
Đấng Tạo hóa còn nuôi thi sĩ,
Các thánh sư phải nghĩ đường xoay.
Dẫu rằng lý số chẳng hay,
Chu Công, Khổng Tử ứng tay nên tài.
Từ thuở nhỏ dùi mài Kinh Dịch,
Báo An Nam nghĩa thích đã tường.
Việc đời hai chữ "âm dương",
Tiếc thay mất giá tại phường ba hoa.
Trời mới bảo Tản Đà tiểu tử,
Vạch càn khôn xét thử lại sao?
Trổ tài thần thánh tuyệt cao,
Mà cho thiên hạ xem vào phải chăng.
Mặc những kẻ tán trăng tán cuội,
Xá chi ai lời nói ba hoa.
Giang sơn đương lúc khề khà,
Nghe thơ Tú Mỡ đậm đà có duyên.
Riêng với bác miễn tiền đặt quẻ,
Đoán thật hay bác sẽ ghê lòng.
Tuổi già nay tớ không ngông!
(Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu)
