Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn (Tiếp theo)

              

Trích những lời bàn về việc làm thơ của người xưa:

1.    Phạm Đình Hổ (1768 - 1839):
“Những kẻ chuộng công danh bây giờ thì chỉ theo đòi hóng gió, lặt lấy những chữ bã mía của tiền nhân, tập làm cái thứ văn chương hoa hoét...”

2.    Lê Hữu Trác (1720 - 1790):
“Thơ cốt ở ý; ý có sâu xa thơ mới hay. Phải làm cho người đọc phải suy nghĩ... thì thơ mới hay. Không phải bất cứ điều gì cũng phải nói ra bằng lời. Như thế mới là thơ có giá trị.”

3.    Kaisyn Kuliev (Cát-xin Ku-li-ép):
“Chỉ cần nhà thơ mất lòng tin vào cuộc đời, tài năng sẽ chết, vì anh ta không còn nghe được dòng nước ngầm của thi hứng... Vì thơ là từ con người làm ra, và để phục vụ cuộc sống con người.”

4.    Ngô Bá Sĩ (1788 - 1867):
“Có khi ba năm mới nghĩ được một câu, mười năm mới làm thành bài thơ. Sao người ta lại tự mình làm khổ mình như vậy? Bởi vì khi viết văn, do ý nghĩ ra, lấy lời mà diễn đạt ý. Không thỏa mãn về lời thì phải xét lại ý; không thỏa mãn về ý thì phải dò lại thần; khi nào thần trọn, ý đủ, mới có thể viết thành bài văn. Cho nên nhà thơ không thể không khổ tâm rất mực vậy.”

(Những ý kiến trên do nhà thơ Hoàng Trung Thông sưu tầm, Xuân Diệu dẫn lại. Báo Văn nghệ số 19 (705) ngày 17 - 5 - 1977)

 

Luận bàn về thơ của các nhà thơ đương đại:

“Một tác phẩm nghệ thuật phải vâng theo quy luật của cuộc sống và còn phải vâng theo quy luật của tác phẩm nữa. Cuộc sống diễn ra như một dòng sông chảy, nước dính liền nhau và đi. Nhưng một bức tranh hội họa là một khung tĩnh vật. Chỉ có quay phim, điện ảnh mới chớp được sự sống trong sự di động của nó, còn bức tranh thì phải lấy cái đứng yên mà diễn đạt cái chuyển đi, chỉ hoàn toàn lấy không gian mà cố gắng diễn đạt thời gian.

Nếu muốn lấy tranh mà diễn đạt những câu chuyện, thì phải vẽ tranh liên hoàn, phải vẽ nhiều bức tranh kế tiếp nhau; nhưng mỗi bức tranh liên hoàn ấy đều phải có quy luật riêng của nó, nghĩa là phải có một trung tâm tình cảm, cảm xúc, một sự hoàn chỉnh về hình thể! Vừa nối dính với bức tranh bên cạnh, vừa phải tự trọn vẹn trong nội bộ của mình.

Bài thơ cũng vậy: Nếu cần kể chuyện, thì làm theo thể loại thơ kể chuyện; còn thì mỗi bài thơ là một trái đơn, chỉ có một hạt, như trái xoài, chứ không phải là một trái mít – nó là trái kép, thực chất là nhiều trái ở chung trong một cái vỏ. Nhiều khi, người làm thơ vì tham nói nhiều chuyện khác nhau trong một bài thơ (bởi thực tế phong phú quá) cho nên làm ra “xoài nhiều hạt”, dồn hai ba bài thơ trong một bài. Nhưng làm như vậy trái với quy luật thưởng thức của người đọc thơ; mà khi người đọc thơ không chấp nhận, khi người đọc đã rút hết cái “lượng thông tin” trong bài thơ rồi và họ bỏ ra, thì họ cũng không dùng lại một lần thứ hai nữa đâu, bởi đây chưa phải là một tác phẩm. Vì một tác phẩm, một bài thơ hay, thì như lời đồng chí Phạm Văn Đồng nói: “Một cuốn sách có giá trị, hàng chục vạn người đọc, năm này qua năm khác, đọc mãi, thế hệ này đọc, thế hệ khác đọc”.

(Xuân Diệu - Trong việc làm thơ, báo Văn nghệ số 16 (702) ngày 16-4-1977)

 

“Làm thơ, ấy là dùng lời và những dấu hiệu thay cho lời nói - tức là chữ - để thể hiện một trạng thái tâm lý đang rung chuyển khác thường... Làm sống ngay lên một tình cảm, một nỗi niềm... Mà trước hết nên lo sao thơ phải nói lên được những tình cảm, tư tưởng mới của thời đại. Dùng bất cứ hình thức nào, miễn là thơ diễn tả được đúng tâm hồn con người mới ngày nay...

Thơ phải có tư tưởng, có ý thức, vì bất cứ cảm xúc tình tự nào của con người cũng dính liền với sự suy nghĩ. Nhưng tư tưởng của nhà thơ là tư tưởng dính liền với cuộc sống, ở trong cuộc sống. Tư tưởng của thơ nằm ngay trong cảm xúc, tình tự. Không ai đọc thơ riêng bằng trí thức mà yêu thơ. Hiểu thơ kỳ thực là vấn đề của cả tâm hồn...

Vượt khỏi tất cả mọi luật lệ, không phải thơ trở nên buông thả, bừa bãi. Sự cẩu thả, buông lỏng chưa bao giờ đi đôi được với nghệ thuật... Nghệ thuật có kỷ luật sắt của nó, nhưng trong đó không thể là những trói buộc, lề lối định sẵn bên ngoài...”

(Nguyễn Đình Thi – Mấy ý về thơ, viết từ năm 1949. Phụ bản thơ báo Văn nghệ số 2 quý II/2003)

 

“Làm thơ khó như cấy lúa. Nó gần gũi với ta 4.000 năm nay nhưng vẫn chưa hiểu hết, còn tranh luận về bệnh vàng lụi... Người đọc thơ không có chiếu cố bất cứ ai, khi nó đã là giấy trắng mực đen. Thơ có cái quy luật của nó, người đọc cũng có cái nhận thức tàn nhẫn của nó, và như thế văn học mới phát triển được.

Trong hóa học có một định luật mà học sinh phổ thông nào cũng phải thuộc. Ấy là định luật bảo toàn trọng lượng: trọng lượng của các chất tham gia phản ứng bao giờ cũng bằng trọng lượng các chất thu được sau phản ứng. Nghĩa là đầu vào bao nhiêu thì đầu ra bấy nhiêu. Trong thơ cũng đúng như thế. Muốn có thơ hay thì phải sống, phải trải, phải chiêm nghiệm, phải bóp đầu suy nghĩ. Nghĩa là cái đầu phải nặng, phải khá. Chớ suốt ngày trà lá nói dóc, tán phét mà đòi thơ hay thì không có đâu. Ấy là tôi nói những người làm thơ thứ thiệt.

Nói đến con ong – con ong bay đến một bông hoa thì đã cho đời một giọt mật, còn con nhặng (có khi cũng hao hao giống con ong đấy) bay qua cả một mùa hoa cũng chẳng làm được trò trống gì, có khi lại làm thối hoa ra cũng chưa biết chừng.”

(Chế Lan Viên – Chế Lan Viên nói về thơ, báo Văn nghệ số 46 (2287) ra ngày 15/11/2003. (Dẫn theo DT)

 

“Học tập thơ ca thế giới - rất đúng và cần thiết. Vấn đề là phải tiêu hóa nó. Nhưng thơ ca dân tộc cũng nhiều cái hay lắm chứ. Sự kỳ lạ, cao rộng, sâu sắc, sự tinh tế của cha ông, chúng ta chưa học hỏi cho đến nơi đến chốn. Có một câu ca dao Nam Bộ tôi cho là cực kỳ tài tình: Muối chua, chanh mặn, ớt ngọt, đường cay; nhánh gừng thì đắng... từ ngày xa nhau. Đây là viên ngọc của ca dao Nam Bộ.

Xa em, tôi không muốn nói là tôi buồn quá, tôi khổ quá, tôi không nói là đau đớn quá, mà là nỗi đau ấy làm tê liệt toàn thân đến nỗi đánh lộn mọi cảm giác. Cho nên (nếm) muối thành chua, (ăn) chanh thành mặn, (ăn) ớt thành ngọt, (ăn) đường thành cay, (nhấm) nhánh gừng thì đắng. Không hề có chữ đau, không có chữ buồn, không có chữ tê dại, không có chữ “chết toàn thân”... mà chúng ta thấy tất cả: Đau đớn tột cùng.

Và tôi đọc Nguyễn Trãi, lắm lúc kinh hoàng vì tính hiện đại của ông. Bây giờ chúng ta cứ hô hào hiện đại, nhưng thế kỷ XV Nguyễn Trãi đã viết như thế này:

Đìa ham nguyệt hiện chăng buông cá,
Rừng tiếc chim về ngại đốn cây”.

Muốn ăn cá nhưng tiếc trăng hơn cá, không nỡ buông câu, vì buông câu thì vỡ hết cả mặt ao và trăng cũng vỡ luôn theo nước. Và không dám bẻ một nhành cây, sợ chim không về nữa. Một ông lão nhà nho ẩn khuất ở Côn Sơn cách đây năm thế kỷ mà hay và sâu sắc đến thế. Hay một câu dân ca Thái: Yêu nhau đựng nước ở trên sàng, thả lá tre thành cá.... Đây là hiện thực, hay tượng trưng, hay là gì?

Hoặc dân ca Hà Tây, để đáp lại câu hỏi của cô gái: Trăng lên đỉnh núi trăng tà/ Mình yêu ta thật hay là yêu chơi, người con trai trả lời:
Ví bằng mình quyết lấy ta,
Ta về ta bán cả nhà ta đi.
Ta bán cả núi Ba Vì,
Bán chùa Tam Thất Phật đi lầu lầu.
Ta về bán hết ngựa trâu,
Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung.
Bán ba mươi sáu Thổ công,
Bán ông Hành khiển, vợ chồng Táo quân.
Bán từ giờ Ngọ, giờ Dần,
Giờ Tý, giờ Sửu, giờ Thân, giờ Mùi.
Ta về bán cả que cời,
Bán tro vun bếp, bán tăm khêu đèn.
Ta về bán trống, bán kèn,
Có gì bán hết lấy tiền cưới em...

Thế đấy, khỏi phải trả lời là yêu thật hay là yêu chơi? Mà con người này cũng thật đặc biệt, dám bán trời, chưa đủ, bán cả thời gian - xưa nay chưa từng có. Đây là trường phái gì: Hiện thực, siêu thực hay lãng mạn?.. Không cần giải thích, trước hết ta thấy nó hay, nó chinh phục trái tim ta mạnh mẽ, tức khắc.

Nói thế để nói rằng chúng ta thực sự có những quả núi văn học lớn, không thua kém ai hết. Đôi mắt chúng ta cứ liếc sang nước ngoài. Học tập nền văn học nước ngoài là đúng, nhưng đừng quên chúng ta có những tài sản văn học lớn. Chúng ta mới mở ra thế giới chừng vài năm, còn văn hóa của chúng ta hàng mấy nghìn năm. Cái gốc mấy nghìn năm đủ cho chúng ta xem xét tất cả các giá trị ở đời.”

(Hữu Thỉnh – Thơ là bữa tiệc của tâm hồn. Phụ bản thơ báo Văn nghệ số 5 tháng 11/2003)

 

- “Thơ phải mới mẻ qua từng dòng, qua từng bài, nhưng thơ chẳng bao giờ là “mốt”. Bởi, làm gì có “mốt” số phận”?

                                                    (Thanh Thảo)

Còn tiếp


Xin giữ nguyên bản quyền của tác giả và đảm bảo ghi rõ nguồn gốc, nếu có sử dụng hoặc giới thiệu lại nội dung cuốn sách này.

                                           Xin cảm ơn                                       

                                      Hoàng Xuân Họa


XEM BÀI TRƯỚC XEM BÀI SAU TRANG CHỦ