Chủ Nhật, 22 tháng 3, 2026

Giới thiệu các Luật thơ, thể thơ, cách làm thơ (Tiếp theo)


12.
Chơi chữ trong dân gian:

Bà già đi chợ Cầu Đông,
Muốn xem quẻ bói lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi mà răng chẳng còn”.
                                    (Ca dao)

- Môi chẳng ra môi còn bẻm mép.

- Con ruồi đậu mâm xôi đậu.

 - Ngựa về đường bể chạy long ton.

- Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch đến già.

- Đi trên đất thịt đường trơn như mỡ.

- Dao cắt lòng, lòng đau như dao cắt.

- Hòn đất mà biết nói năng,
Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn.

- Trăng bao nhiêu tuổi trăng già,
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?

Chơi chữ đồng âm trong thơ hiện đại:

Tạm biệt đời ta yêu quý nhất
Còn mấy vần thơ, một nắm tro
Thơ gửi bạn đường, tro bón đất
Sống là cho, chết cũng là cho”.
                                   (Tố Hữu)

13. Chơi chữ trong câu đối, trong thơ:

Trong câu đối:
Đôi câu đối chửi tên quan tham nhũng Từ Đạm:

- “Kiếp trước mơ màng con đĩ Đạm

Đời sau gặp gỡ bố cu Từ. (Đạm Tiên - Từ Hải).

 

 - “Phên đan mắt cáo mèo chui lọt

Nghé lội ao sen ngó nổi lên”.
                                       (KD)

- Vế thách đối của Hồ Xuân Hương: Mặc áo giáp, dải cài chữ Đinh; Mậu, Kỷ, Canh khoe mình rằng Quý.

- Vế đối lại của Chiêu Hổ: “Làm đĩ càn, tai đeo hạt khảm; Tốn, Ly, Đoài khéo nói rằng Khôn”.

 

Chơi chữ trong thơ:

Đền Ngọc Sơn (Đọc xuôi)
Linh uy nổi tiếng thật là đây,
Nước chắn, hoa rào một khóa mây.
Xanh biếc nước soi hồ lộng bóng,
Tím bầm rêu mọc đá tròn xoay...
Canh tàn lúc đánh chuông âm tiếng,
Khách vắng khi đưa xạ ngát bay...
Thành thị tiếng vang dồn thích thú,
Rành rành nọ bút với nghiên này”.

 

Đền Ngọc Sơn (Đọc ngược)

Này nghiên với bút nọ rành rành,
Thú thích dồn vang tiếng thị thành.
Bay ngát xạ đưa khi vắng khách,
Tiếng âm chuông đánh lúc tàn canh.
Xoay tròn đá mọc rêu bầm tím,
Bóng lộng hồ soi nước biếc xanh.
Mây khóa một rào hoa chắn nước,
Đây là thật tiếng nổi uy linh”.
                            (Tình Sĩ Tử)

 

Mừng cháu đích tôn tròn một tuổi
Đích đích tôn tôn trọn tuổi rồi,
Ông ông cháu cháu nụ cười tươi.
Già già trẻ trẻ cùng sung sướng,
Tháng tháng năm năm thật tuyệt vời.
Mẹ mẹ cha cha cùng phấn khởi,
Hàng hàng xóm xóm cũng sang chơi.
Mong mong mỏi mỏi mau khôn lớn,
Óc óc tim tim dựng cuộc đời”.
                                       (Lê Bầu)

Bài “Đền Ngọc Sơn”, tác giả xoay tiếng “này” lên đứng đầu và cứ thế cuốn chiếu đọc ngược lại vẫn đủ ý tứ. Bài sau của Lê Bầu, nếu bỏ những từ láy đi thì chỉ là bài thơ 5 chữ. Mới thấy chơi chữ, “chơi” thơ cũng lắm công phu.

 

14. Cách nói quá sự thực

Ngoa dụ:
Một thủ pháp nghệ thuật dựa trên cơ sở phóng đại, cường điệu, nhân hóa khi miêu tả:

Lỗ mũi mười tám gánh lông,
Chồng yêu, chồng bảo tơ hồng trời cho...”.

Con rận bằng con ba ba,
Đêm nằm nó ngáy cả nhà thất kinh...”.
                                              (Ca dao)

Nghịch lý:
Trong sáng tác văn học, nghịch lý là những điều miêu tả trái với lẽ thường, một biện pháp gây ấn tượng bất ngờ, phi thực:

Con chuột kéo cày lồi lồi,
Con trâu bốc gạo vào ngồi trong cong...”.

Hùm nằm cho lợn liếm lông,
Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi...”.

Thóc giống cắn chuột trong bồ,
Một trăm lá mạ đuổi vồ con trâu...”.
                                   (Ca dao)

Ẩn dụ: Nói cái này lại ám chỉ cái kia:

Hôm qua em mất váy thâm,
Hôm nay lại thấy anh cầm ô đen!..
                                       (Ca dao)

Thuyền ơi có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
.

                                        (Ca dao)

Anh đến vườn hoa thì hoa đã nở,
Anh đến bến đò thì đò đã qua sông”.
                        (Dân ca Nghệ An)

Này này chị bảo cho mà biết,
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay”.

Rúc rích thây cha con chuột nhắt,
Vo ve mặc mẹ cái ong bầu”.
                       (Hồ Xuân Hương)

Hang hùm ví bẵng không ai mó,
Sao có hùm con bỗng chốc tay”.
                              (Chiêu Hổ)

                   Đi câu
Thừa nhàn lắm lúc tớ đi câu,
Biết cả các loài ở cạn sâu:
Lũ bống xơi ngầm im phăng phắc,
Đàn mương ăn bẩn đến nhâu nhâu.
No mồm chú ếch ngồi phùng má,
Đói bụng cu lươn rúc lấm đầu.
Mồi mắc bởi chưng ăn xộp quá,
Không tham chưa dễ hại gì đâu.
           (
Chu Mạnh Trinh - 1862–1905)

 

15. Khoán thủ: Tất cả các tiếng ở đầu mỗi câu thơ khi đọc xuôi xuống đều mang một ý nghĩa mà nhà thơ đã định sẵn, như một dòng tên người, một câu khẩu hiệu, một câu châm ngôn hoặc một câu nói nổi tiếng.

Thập kỷ 60 thế kỷ 20, Bắc - Nam tạm thời bị chia cắt bởi con sông Bến Hải theo Hiệp định Đình chiến Genève. Từ bờ Nam sông Bến Hải trở vào do chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Ngô Đình Diệm cai trị. Nhân dân miền Nam vẫn hướng về miền Bắc bằng cách bảo nhau cùng treo bức tranh “Ông già câu cá” của một nghệ sĩ dân gian có đề bài thơ tứ tuyệt như sau:

Cụ già thong thả buông cần trúc,
Hồ rộng thênh thang mặt nước bằng,
Muôn vạn đài sen đua lóng lánh,
Tuổi già vui thú với non sông.”

Một mật vụ của chính quyền có chút hiểu biết về thơ phú phát hiện ra (ghép các chữ đầu thành “Cụ Hồ muôn tuổi”), nên báo cấp trên ra lệnh tịch thu và cấm nhân dân treo bức tranh cũng như bài thơ trên. Bức tranh bị cấm nhưng bốn câu thơ thì đã đi vào lòng người.

Còn nhiều bài thơ chơi chữ theo lối khoán thủ khác. Xin giới thiệu thêm một bài thể Đường luật:

 

                  Gửi bạn

Nhất sinh tôi bác biết nhau rồi,

Định đoạt hơn thua phó mặc trời.

Chúng mải công danh ky cóp chạy,

Ta nhìn mây nước nhẹ nhàng trôi.

Theo quan, ngán bấy câu chè lá!

Về xã, buồn thay cảnh thịt xôi.

 gậy theo trăng vào quán trọ,

Ninh trà, nạp thuốc, chuốc nhau chơi!

(Quả Ngôn - một nhà nho trước 1945)

Bỏ âm “h” ở từ Ninh đi, đó là chữ Nin: “Nhất định chúng ta theo về Lê-nin”. (Tiếng Trung Quốc phiên âm tên lãnh tụ Lê-nin là Lệ Ninh).

 

      Khoán thủ, khoán vĩ

Phu xướng thê tùy giữ đạo phu
Qúy vật tìm về với người quý
Vinh nhục cuộc đời rõ chữ vinh
Hoa tàn xuân tận mặc sắc hoa
Như mộng như huyễn tựa chi như
Phù thế lênh đênh kiếp sống phù
Vân hợp vân tan tựa áng vân
Tự tại tiêu dao gốc tại tự
. 

                                  (KD)

 

16. Một hình thức thơ độc đáo khác: Dạng tạo mô hình.

Kiểu trình bày bài thơ “hình phễu” của nữ sĩ Ngân Giang thật lạ. Bà sử dụng vần “a” (gà, pha, hà, nga, hoà, ta) xuyên suốt bài thơ một cách tài tình, các dòng thơ ngắn dần lại, xếp thành kiểu “lục - nhất lệch”:

 

         Ðường   về   tre   xanh   rợp  lối

           Suối khe văng vẳng canh

             Tình thương dài sử sách

              Ngọc đá cũng phôi pha

                 Niềm  tin  bất  diệt

                  Gắn  bó sơn 

                   Như Ðường nga

                      Tâm huyết

                       Chan hoà

                           Bạn

                            Ta

Lệnh Hồ Sở, tể tướng thời nhà Đường, bạn thân của Bạch Cư Dị, lại trình bày một lối thơ “hình tháp”. Đây cũng là một kiểu chơi chữ “nhất - thất lệch”. Mới biết “chơi” thơ cũng lắm công phu (dẫn theo Phan Văn Các):

 

                          Non

                      Chất ngất

                     Chon  von

                  Xanh biển biếc

                 Bạc   mây   vờn

              Thương lão sâu ẩn

             Tạ  công   xa   vườn

            Ðá  xưa  khe  róc rách

          Thung vắng, chim ríu ran

        Rừng  rậm  chạy dài ải lũng

      Vượn kêu thấu suốt Kinh man

    Người tục chết già trong gấu váy

  Hươu  nai  tận  hưởng  cỏ hoa thơm

                      (Phan Văn Các dịch)

 

Chịu ảnh hưởng từ những phương pháp ngoa dụ, nghịch lý, ẩn dụ và chơi chữ trong ca dao dân gian, nhiều nhà thơ nửa cuối thế kỷ 20 đã sáng tác được những câu thơ khá hay cho nền thơ Việt Nam:

Trời thì xanh như rút ruột mà xanh
Cây thì biếc như vặn mình mà biếc...”.
                                  (Thi Hoàng)

Đừng buông giọt mắt xuống sông
Anh về, dẫu chỉ đò không cũng chìm...”.
                                (Đồng Đức Bốn)

Muốn trèo lên nắng mà đi
Muốn đu lên gió mà về với nhau...”.
                               (Đỗ Trọng Khơi)

Gió không phải roi mà vách núi phải mòn
Em không phải chiều mà nhuộm anh đến tím..”.
                                                     (Hữu Thỉnh)

Đường số một chạy dài theo biển
Biển mệt nhoài nằm thở ở Nha Trang...”..
                                      (Hữu Thỉnh)

“Mẹ mượn Đèo Ngang buộc một đầu guốc võng
Cột gỗ nhà ta, một đầu võng kẽo cà....
                           (Nguyễn Hữu Quý)

Giọt chuông Thiên Mụ rơi thầm
Đưa đây nỗi nhớ anh cầm, Huế ơi...”.
                         (Trương Nam Hương)

Sông Hương hoá rượu cho anh uống
Tất cả đền đài nghiêng ngả say...”.

                             (Nguyễn Trọng Tạo)

Còn tiếp 

XEM BÀI TRƯỚC XEM BÀI SAU TRANG CHỦ