Phần II
Cõi thiên đường (9)
Giá mà người bố nuôi hôm chia tay ở sân bay Gia Lâm đừng cho chiếc đồng hồ; cứ để gã mù tịt về giờ giấc, không biết chuyện B trưởng vặn lại kim giờ để bắt bốn chục con người làm quá giờ không công, thì gã đâu bị B trưởng trù úm, phân công đểu, bắt làm toàn việc nặng nhọc.
Nhiều lần như thế, nhiều ngày như thế, gã phẫn lộ bỏ công trường về thẳng.
Những chuyện “vân lim vân lát” ấy chảy từ ký ức lèn đầy các trang giấy. Gã gọi
đó là truyện ngắn, truyện vừa. Gọt đi dũa lại hai ba lần, khi thấy vừa ý, gã
chép lại sạch sẽ gửi đến tòa báo rồi xé bỏ bản thảo gốc, coi bản gửi đi là “tác
phẩm”. Gã kiên nhẫn chờ đợi, mua tất cả các số của tờ báo mà gã gửi bài
trong suốt ba tháng liền.
Không thấy tăm cá bóng chim, gã lại mua giấy ngồi viết truyện khác. Gã có
biết đâu, truyện nào gửi đến tòa soạn cũng đều rơi vào tay một ông đọc lai cảo
có thói sính “con ông cháu cha”. Với ông ta, nghề văn nghề báo cứ phải con dòng
cháu giống mới viết ra văn; cho dù bố viết hộ con, ông viết hộ cháu vẫn cứ hay
hơn văn của những kẻ ngoại đạo tự mình viết lấy!
Cầm tập bản thảo lên, việc đầu tiên là ông ta liếc nhìn tên tác giả rồi
hỏi một câu bâng quơ với những người trong phòng biên tập. Cả phòng khi ấy kẻ
thì ngáp dài, người thì ngủ gật, kẻ lại đang thả hồn vào một câu thơ bí vần:
- Vũ Tung là con cái nhà ai ấy nhỉ?
Sau cái ngáp dài “ới giời ơi”, một ông tỉnh cơn ngủ gật, mắt nhắm mắt mở
đáp lời:
- Chắc lại con nhà “cha căng chú kiết” chạy biệt vào rừng, chứ văn nghệ sĩ
ai lại đặt tên con nghe như tiếng quạ mổ vào mặt trống: đánh “tu... uung’ một
nhát khô khốc thế bao giờ!
Cả phòng được đà vỗ bàn cười ha hả. Rồi, họ quăng tót “tác phẩm tác phẻo” của gã vào sọt rác dưới gầm bàn mà chẳng thèm liếc qua lấy một chữ.
HXH
(Còn nữa)
