Phần II
Cõi thiên đường (6)
Các vị chỉ giỏi lối đánh “du kích” trên mặt chữ, chắp vá vài sự việc cỏn
con rồi xào nấu thành thứ hàng nội địa thiếu vắng hơi thở thời đại và cốt cách
dân tộc. Những tác phẩm ấy yếu nhược về tính sử thi, còn tính nhân văn thì mờ
nhạt, manh mún.
Trên văn đàn vẫn truyền tai nhau một giai thoại: Một nhà văn vì quá bực bội
trước những lời chê ỏng chê eo của tay phê bình nọ, đã thách hắn viết thử một
cuốn truyện xem “ra ngô ra khoai” gì không, thay vì cứ mãi “dạy đĩ vén xống”.
Gã phê bình thản nhiên dẫn câu chuyện vui nước ngoài:
- Con gà đẻ cả quả trứng, nhưng nó có bao giờ biết món trứng rán ngon thế nào đâu!
Nhà văn nọ bèn gõ ba toong vào không khí, đáp lại:
- Thế ông có biết cái sự đẻ của con gà nó đau đớn, “rát...” đến mức nào
không?
Với những suy nghĩ về
nền văn học nước nhà chưa có được đỉnh cao, cả việc tóm được cái giai thoại
vui vui kể trên làm nền cho Tung xây dựng một quyết tâm viết. Tung viết như bị ốp
đồng, mê cuồng trong viết lách.
Chẳng rõ do ở bẩn hay tại nằm ổ rơm mà
chấy rận sinh sôi nảy nở như sung. Năm ấy trời rét căm căm, “rét ông chưa
qua, rét bà lại đến”, cái rét tàn rét hại kèm mưa phùn gió bấc lai rai cả
tháng trời. Chỉ đợi ngày nào hửng chút nắng ấm, người lớn trẻ con lại kéo nhau
lên mặt đê sưởi nắng, bắt chấy rận cho nhau.
Các bà già vạch diềm áo, nhặt nhưng con
rận cho ngay vào mồm, cắn kêu câng cấc. Có người rận nhiều quá bắt không xuể,
bèn rải quần áo, khăn vấn ra mâm đồng, dùng vỏ chai xiết như xiết đậu xanh để
giết rận. Tiếng rận nổ lép bép, máu dính đỏ tím lấm tấm khắp mặt mâm. Vậy mà
chẳng hiểu sao, có anh nhà thơ nằm nhờ ổ rơm một đêm lại tưởng tượng ra đó là
“giường tiên” với “chiếu ngọc” để dệt thành những vần thơ, trang văn rất
chi lãng mạn cách mạng chứ lị?
Riêng gã, cứ nghĩ tới ổ rơm là lại kinh
khiếp cái cảnh chấy rận bâu đầy. Gã xin “vái cả mười đời nón lá” nhà ổ rơm.
Gã căm thù lũ ký sinh trùng ấy, bởi chính chúng đã đẩy gã vào cảnh phải sống
với người dì ghẻ cay nghiệt. Vì chúng - những con chấy, con rận chuyên rúc
trong diềm vải hút máu người - mà cuộc đời gã chẳng bao giờ có được một tuổi
thơ êm đềm may mắn.
Ngày ngày, chị Bút đến bắt chấy rận giúp bà cháu gã. Chị đem cho gã dăm tấm
mía de; khi tước mía ăn, vỏ mía sắc như cật nứa cứa rách mép, rách lưỡi, bã mía
dính đỏ máu. Tay bắt chấy cho bà cháu gã, mồm chị Bút tỉ tót những lời đường mật:
- Bà chẳng đẻ ra con cũng như bà đã đẻ con, con sẽ coi bà như mẹ đẻ. Con sẽ
thay cô Hai phụng dưỡng bà, chăm chút con anh Hai như con mình...
Thế nhưng, khi đã yên vị làm vợ bố gã, dì ghẻ
thay đổi hẳn thái độ. Ký ức đời gã tràn ứ đầu ngọn bút, chảy tràn lên từng
trang giấy, vẽ lại chân dung một người mẹ ghẻ cay nghiệt, chao chát. Chẳng rõ
bà ghét gã ở điểm gì mà cứ thượng cẳng chân, hạ cùi tay lên thân hình còm nhom
của đứa trẻ chín, mười tuổi mồ côi mẹ theo cha về quê tản cư ngày ấy. Đánh mỏi
tay, dì lại huy động đến mồm, tru tréo “khai quật” bật săng tận cụ tổ ngũ đại
nhà gã mà chửi cho sướng miệng. Không sao, cụ ngũ đại là của chung dòng họ, lại
khuất núi từ đời tám hoánh, gã đâu biết mặt cụ để mà xót thương.
- A! Bà đào bới xới rễ nhà mày thế mà mặt mày cứ trân trân như đĩ trần
không váy. Thánh sư cha con đĩ đẻ ra mẹ mày!
Đến nước ấy thì gã không thể chịu đựng
được nữa. “Con đĩ đẻ ra mẹ” gã - người bà ngoại mà gã hết lòng yêu thương và
kính trọng nhất đời. Người bà trước khi dì ghẻ lấy bố gã đã từng đùm bọc, chăm
bẵm cả tuổi ấu thơ của gã ở quê những năm thơ ấu.
Tính theo cấp bậc họ hàng, dì ghẻ còn
phải gọi bà ngoại gã là bà trẻ, gọi mẹ gã bằng cô: “Cháu lấy chồng cô, thóc lúa
đổ bồ, giống má nhà ta!”. Lấy bố gã rồi, gã vẫn quen lệ cũ gọi dì ghẻ là chị.
Bà có chum thóc nếp để dành ăn Tết, chị em dì ghẻ lẻn vào lấy trộm về xay ăn
dần. Vườn củ bột của bà sắp thu hoạch cũng bị chị em dì đêm đến rủ nhau đào
trộm, gánh đi chợ bán. Bà ngoại tiếc của, trồng ngược cây chuối trước cổng, vẽ
vôi thành hình mắt, mũi, mồm lên củ chuối rồi bắc ghế chửi rủa suốt sáng trưa
chiều tối. Mỗi câu chửi, bà lại lấy cả chùm gai găng, gai bồ kết cắm vào mắt
mũi kẻ ăn trộm thóc, trộm củ bột cho chúng đui mù thui chột; nhưng hai kẻ ăn
trộm vẫn sống nhơn nhơn.
Trong góc khuất tâm hồn gã, bà ngoại là
cõi thiêng liêng nhất, vậy mà dì ghẻ dám xúc phạm. Bao nhiêu tội tầy đình của
chị em dì, gã đã cho qua, nhưng lần xúc phạm vào cõi thiêng này thì gã không
thể nhẫn nhịn thêm được nữa. Gã phải cãi lại:
- Chị không được láo! Bà tôi, mẹ tôi còn
là bề trên của chị!
Thế là dì ghẻ túm lấy, dúi gã ngã lăn ra
đất rồi tay thụi, chân đạp túi bụi. May cho đời gã, có người hàng xóm tốt bụng
xông vào ngăn lại, nếu không gã đã xuống “ngủ với giun” ở nghĩa trang Hợp
Thiện, Quỳnh Lôi từ năm 1950 rồi, còn đâu cái đầu ương bướng để mà mộng mị
chuyện văn chương chữ nghĩa.
Vừa thấy bóng dáng chồng bước vào cửa, dì ghẻ đã vội nghiến răng, trợn
mắt, cất tiếng bù lu bù loa:
- Ối giời cao đất dày ơi! Xem cái giống “quý tử’ nhà anh kìa! Nó vừa vác gậy định
hành hung, đánh đuổi mẹ con tôi đấy. Phen này mẹ con tôi phải khăn gói về quê
thôi, chứ ở lại cái nhà này thì có ngày bỏ mạng dưới tay nó mất thôi!
