Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

CHUYỆN CŨ VIẾT LẠI

             Nỗi oan khuất của bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long)

Lịch sử cải cách ruộng đất thế kỷ XX trên thế giới từng chứng kiến những bi kịch đầy đau thương mang tính hệ thống. Khởi đầu là chiến dịch “bài trừ phú nông” (kulak) giai đoạn 1929 - 1933 tại Liên Xô, dẫn đến việc nhà kinh tế học nông nghiệp lỗi lạc Aleksandr Chayanov (*) bị thanh trừng vào năm 1937, và chỉ một năm sau là cái chết của người đồng nghiệp Nikolai Kondratiev (**). Mười năm sau, kịch bản ấy lặp lại bên kia biên giới khi Ngưu Hữu Lan (***) - một điền chủ, phú thương yêu nước tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc - qua đời trong u uất vào năm 1947 do phong trào đấu tố cực đoan. Đúng 6 năm sau, tại Việt Nam, một tấn bi kịch tương tự đã vận vào số phận của bà Nguyễn Thị Năm (1906 - 1953).

Người con gái làng Bưởi (Tây Hồ, Hà Nội) ấy đã khép lại cuộc đời đầy thăng trầm vào ngày 9 tháng 7 năm 1953 tại Đồng Bẩm, Thái Nguyên. Cái chết oan khuất của bà được coi là “phát súng hiệu” chịu ảnh hưởng từ tư duy giáo điều của đoàn cố vấn do La Quý Ba “cố vấn”, dẫn đến một quyết định sai lầm giáng xuống lòng yêu nước nồng nàn của một người phụ nữ trọn đời vì nước vì dân.

Quá khứ trước khi bi kịch ập đến là những năm tháng huy hoàng của một nữ thương nhân đầy tài năng. Góa chồng từ những năm 1940, bà một mình làm trụ cột kinh tế, tích lũy cơ nghiệp từ nghề buôn tơ lụa và phế liệu tại đất cảng Hải Phòng sầm uất đầu thế kỷ XX. Thu mua từng mảnh sắt vụn của những người gom đồng nát, bà bán lại cho chủ tàu Pháp, đổi lấy hàng tiêu dùng phân phối cho các chợ đầu mối lớn.

Khi cơ nghiệp đã vững vàng, bà khai sinh ra hiệu buôn Cát Hanh Long - cái tên gửi gắm ước vọng hưng thịnh gắn liền với tên hai người con trai là Nguyễn Hanh và Nguyễn Cát. Nhờ nguồn thép xây dựng nhập khẩu trực tiếp từ Pháp, Cát Hanh Long nhanh chóng trở thành một trong những thế lực cung cấp sắt thép và tơ lụa lớn nhất Hải Phòng và Hà Nội thời bấy giờ.

Bước ngoặt lớn đến vào đầu thập niên 1940, khi một tàu buôn Pháp bị đắm tại vùng Cửa Cấm (Hải Phòng). Bà Năm đã mạnh dạn mua đứt con tàu chìm với giá rẻ rồi thuê thợ lặn trục vớt. Chỉ riêng số rượu vang Bordeaux vớt được đã thừa sức hoàn vốn, đem lại cho bà khoản lợi nhuận khổng lồ. Có tiền, bà chủ động mua lại hai đồn điền rộng hàng nghìn héc-ta tại Đồng Bẩm và Phúc Trìu (Thái Nguyên) từ giới chủ Pháp lo sợ trước sức mạnh đang phát triển của Mặt trận Việt Minh.

Từ một thương nhân thuần túy, bước ngoặt tư tưởng đã đến với bà qua sự vận động của các nhà lãnh đạo cách mạng như Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt. Kể từ khi hướng lòng yêu nước về phía Cách mạng, người phụ nữ đứng đầu hiệu buôn Cát Hanh Long đã không chút đắn đo, biến sản nghiệp của mình thành bầu sữa tài chính nuôi giấu và hỗ trợ cách mạng.

Tấm lòng son sắt của bà với non sông đã sớm được chứng minh từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi bà chủ động quyên góp cho tổ chức khoản tiền khổng lồ lên tới 20.000 đồng bạc Đông Dương (tương đương khoảng 700 lạng vàng lúc bấy giờ). Không dừng lại ở tài sản, hai người con trai của bà là Nguyễn Hanh và Nguyễn Cát cũng được mẹ động viên cởi bỏ áo gấm lụa là để dấn thân vào hàng ngũ quân đội cách mạng, chính thức bước vào cuộc trường chinh kháng chiến chín năm.

Để rồi, ngày 19 tháng 18 năm 1945 đã trở thành một dấu ấn không thể phai mờ trong cuộc đời nữ doanh nhân Cát Hanh Long. Ngay khi nhận tin Hà Nội giành được chính quyền từ tay phát xít Nhật, bà lập tức đưa ra quyết định táo bạo: lệnh dừng toàn bộ đoàn xe vận tải đang chạy trên tuyến Hải Phòng - Hà Nội nhằm bảo toàn lực lượng và sẵn sàng chuyển hướng phục vụ nhiệm vụ mới.

Không một chút do dự, bà trở thành người phụ nữ duy nhất thời bấy giờ tự mình bước lên chiếc xe hơi riêng, dũng cảm cắm chặt lá cờ đỏ sao vàng trước mũi xe. Chiếc xe của bà lao vút đi, xuyên qua các rào chắn và những vùng kiểm soát còn sót lại của quân Nhật, phóng thẳng từ đất cảng lên chiến khu Thái Nguyên núi rừng hiểm trở. Chuyến xe rẽ màn sương mang theo sứ mệnh thiêng liêng: báo tin mừng đại thắng cho hai người con cùng các chiến sĩ cách mạng. Hình ảnh người đàn bà quý phái, dũng cảm băng băng qua đồn bốt giặc đã trở thành một biểu tượng kiêu hãnh cho tinh thần yêu nước quật cường của giới tư sản dân tộc.

Bước vào cuộc chiến sinh tử của dân tộc, hai đồn điền Đồng Bẩm và Phúc Trìu trở thành một “An toàn khu” thu nhỏ. Giữa chiến khu Việt Bắc gian khổ, dinh cơ của bà Năm là nơi chở che cho những nhà lãnh đạo kiệt xuất của Trung ương Đảng như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị... Họ đã tá túc, làm việc bí mật dưới sự bảo bọc nghiêm ngặt của gia đình bà.

Bà tự mình đốc thúc chăm lo từ bữa ăn đến tấm áo cho chiến sĩ, bao cấp toàn bộ lương thực cho các đơn vị quân đội cách mạng tại địa phương. Không dừng lại ở vai trò “bầu sữa” tài chính, bà trực tiếp tham gia Ban Chấp hành Trung ương Hội Phụ nữ và cống hiến hết mình cho phong trào phụ nữ Liên khu Việt Bắc. Nữ tư sản đất cảng đã rũ bỏ vinh hoa để hòa mình vào cuộc trường chinh của đất nước.

Nhưng bánh xe lịch sử lại rẽ vào một khúc quanh nghiệt ngã. Năm 1953, cơn lốc Cải cách ruộng đất thí điểm tràn qua Thái Nguyên. Hệ tư tưởng giáo điều và cực đoan từ đoàn cố vấn Trung Quốc đã đẩy bầu không khí sục sôi thành một cơn cuồng phong mất kiểm soát. Trong chớp mắt, bản lý lịch vàng của người phụ nữ ái quốc bị xé nát, thay bằng bản cáo trạng tàn nhẫn: “Địa chủ cường hào gian ác”!

Theo hồi ký của nhà báo Hoàng Tùng: “Chọn địa chủ Nguyễn Thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung Quốc”. Trước tình cảnh đó, trong cuộc họp Bộ Chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn bày tỏ sự phản đối: “Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào một người đàn bà, mà người ấy lại giúp đỡ cho cách mạng”. Cụ Hồ viện dẫn tư duy nhân văn rằng không nên đánh phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa, và nhấn mạnh: “Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ từng nuôi cán bộ cộng sản, lại là mẹ của một trung đoàn trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam đang tại chức!”

Thế nhưng, trước áp lực liên tục từ trưởng đoàn cố vấn, quyết định cuối cùng đã không thể đảo ngược. Vì đại cục và để bảo vệ mối quan hệ quốc tế trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở giai đoạn quyết định, cụ Hồ đành phải chấp nhận theo số đông trong sự bất lực đầy trăn trở: “Thôi, tôi theo đa số chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”.

Và rồi, những cuộc đấu tố khốc liệt liên tiếp diễn ra ngay trên mảnh đất Đồng Bẩm. Người phụ nữ từng cởi bỏ áo gấm lụa là để nuôi giấu cán bộ, từng hiến dâng cả gia sản cho nền độc lập dân tộc, giờ đây phải đứng cúi đầu trước những lời luận tội cay nghiệt. Đau lòng hơn, hai người con trai của bà - những sĩ quan quân đội đang tận hiến cho kháng chiến - cũng bị tước bỏ quân hàm, chịu chung số phận liên lụy nghiệt ngã của gia đình.

Đêm ngày 9 tháng 7 năm 1953 (tức ngày 29 tháng 5 năm Quý Tỵ), tấn bi kịch đi đến hồi kết thúc bằng một bản án tử hình. Tiếng súng oan khốc vang lên giữa màn đêm Đồng Bẩm không chỉ tước đi mạng sống của một nữ doanh nhân tài năng, mà còn để lại một vết cắt rớm máu trong lịch sử phong trào cách mạng. Phát súng hiệu nghiệt ngã ấy đã mở đầu cho một giai đoạn oan sai và tổn thất nghiêm trọng kéo dài suốt cuộc cải cách ruộng đất sau này.

Thời gian trôi qua, bụi mờ lịch sử dần được gột rửa để trả lại sự thật khách quan. Sau khi chiến dịch khép lại, Đảng và Nhà nước đã thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm nghiêm trọng trong việc chỉ đạo, thực hiện, đồng thời tiến hành công tác Sửa sai trên quy mô lớn vào năm 1956. Những nhà lãnh đạo cách mạng lão thành năm xưa từng được bà che chở đã chính thức xem xét lại hồ sơ để minh oan cho bà. Thành phần giai cấp của bà Nguyễn Thị Năm sau đó được trả lại đúng với thực tế: một “tư sản, địa chủ kháng chiến” có công lớn với nước nhà.

Câu chuyện về bà Nguyễn Thị Năm và hiệu buôn Cát Hanh Long khép lại như một nốt trầm bi tráng, để lại bài học xương máu về sự nguy hại của tư duy giáo điều, rập khuôn máy móc. Thiết nghĩ, đã đến lúc bảo tàng Phụ nữ cần trưng bày những thước phim, tư liệu về bà; hoặc xem xét vinh danh tên tuổi của bà tương tự như các nhân sĩ yêu nước cùng thời như cụ Trịnh Văn Bô - có như vậy mới vẹn nghĩa đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Việc ghi nhận và tôn vinh sòng phẳng ấy không chỉ xoa dịu một vong linh oan khuất, mà còn giúp thế hệ mai sau hiểu đúng, hiểu đủ về một giai đoạn lịch sử đầy biến động nhưng cũng rất đỗi kiên cường của dân tộc.

                                                      HXH

                                                      7/2026

----------------------

CHÚ THÍCH:

(*) Aleksandr Chayanov (1888 – 1937): Nhà kinh tế học nông nghiệp lỗi lạc của Liên Xô. Ông là người ủng hộ nhiệt thành việc phát triển kinh tế nông thôn dựa trên mô hình hộ nông dân gia đình tự nguyện. Do phản đối chính sách tập thể hóa cưỡng bức quy mô lớn của Stalin, ông bị bắt năm 1930 với cáo buộc ngụy tạo là thành viên của “Đảng Lao động Nông dân” và bị xử bắn năm 1937. Đến năm 1987, ông được Liên Xô chính thức minh oan và phục hồi danh dự.

(**) Nikolai Kondratiev (1892 – 1938): Nhà kinh tế học kiệt xuất của Liên Xô, cha đẻ của lý thuyết chu kỳ kinh tế dài hạn “Sóng Kondratiev”. Ông có cùng quan điểm ôn hòa với Chayanov về phát triển nông nghiệp và cũng bị bắt trong vụ án ngụy tạo năm 1930. Sau nhiều năm giam cầm, ông bị tuyên án tử hình và bị xử bắn năm 1938 tại ngoại ô Moscow. Ông được minh oan hoàn toàn vào năm 1987.

(***) Ngưu Hữu Lan (chữ Hán: 牛友, bính âm: Niu Youlan; 1885 - 1947): Phú thương giàu có và là một nhân sĩ yêu nước nổi tiếng tại tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, từng dốc lòng tài trợ tài chính và vũ khí cho Đảng Cộng sản Trung Quốc trong kháng chiến chống Nhật. Ông qua đời trong u uất vào năm 1947 sau khi trở thành mục tiêu của phong trào đấu tố địa chủ cực đoan trong chiến dịch Cải cách ruộng đất tại căn cứ địa Tấn Tùy.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Những kỷ niệm về Bác Hồ, hồi kí của Hoàng Tùng, Bí thư Trung ương Đảng, Tổng biên tập Báo Nhân Dân.

 - Hồi ký của Vũ Đình Huỳnh, Vụ trưởng Vụ Lễ tân Bộ Ngoại giao, Thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

- Chương 5 của bộ hồi ký Đèn Cù, của Trần Đĩnh trên trang Web Vinadia (Vinadia.org)  

- Hà Hương và Ngọc Hà, “Phỏng vấn ông Nguyễn Thủy Chung - cháu nội cụ Nguyễn Thị Năm”, Loạt bài xuất bản trên Báo Tuổi Trẻ (Tháng 9/2014, nhân sự kiện Triển lãm Cải cách ruộng đất tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia).

- Xuân Ba, Loạt bài phóng sự điều tra và công bố tư liệu lịch sử về giai đoạn Cải cách ruộng đất, đăng tải trên Báo Đại Đoàn KếtTạp chí Văn Nghệ.

 - Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Các bài viết nghiên cứu chuyên sâu về đóng góp của hiệu buôn Cát Hanh Long trong “Tuần lễ Vàng” và Quỹ Quốc phòng quốc gia, Tạp chí Xưa & Nay (Cơ quan ngôn luận của Hội sử học).

                             Phần mộ bà Nguyễn Thị Năm tại nghĩa trang Đại Từ,

                             phường Định Công, Hà Nội.


XEM BÀI SAU TRANG CHỦ