CHUYỆN CÕI TRỜI & CHUYỆN CÕI ÂM
Phần II
Cõi thiên đường (1)
“Từ mộ huyệt cõi âm vọng đáp
Hãy sống đi rồi biết
Vời vợi cao xanh chỉ thấy mây
cười”
(Thơ Lý
Phương Liên)
Vừa tỉnh dậy sau một giấc ngủ li bì đầy
mộng mị, còn chưa kịp tỉnh táo lại, dụi mắt mấy lần rồi mà hai mi mắt
vẫn dính chặt vào nhau đã nghe tiếng Duy - vợ tôi - cằn nhằn:
- Ngủ gì mà gáy pho pho như kéo gỗ, ai mà chịu
cho nổi! Xưa nay ông có bao giờ thế đâu? Nằm cạnh người gáy như bò rống thế
này thì đến ma Tây cũng chẳng ngủ nổi, nói gì cái thân già khó ngủ này. Bị
đánh thức giữa chừng thế là tôi thức trắng đêm luôn rồi đấy, giời ạ!
Tôi
chẳng dám nói gì, cứ lặng thinh như kẻ điếc, mặc cho Duy cự nự. Suốt cả tuần
sau đó, tôi sống như người mất hồn: ăn không ngon, ngủ không yên. Đầu óc cứ
bâng khuâng, tiếc nuối như vừa đánh mất thứ gì quý giá lắm. Chẳng buồn nghĩ xa
cũng chẳng thiết nghĩ gần, người tôi cứ mụ mị đi, ngơ ngẩn ra vào. Nhận ra sự
bất thường ấy; thấy tôi đứng ngồi không yên, chốc chốc lại thở dài đánh thượt,
Duy nhìn tôi soi mói rồi trừng mắt hỏi:
- Ông bồ bịch, nhớ nhung con nào mà cứ thở ngắn
thở dài cả ngày thế?
Tôi trả lời:
- Nhớ con mẹ sáu tấm!
Sợ tôi bị stress, Duy bàn chuyện đi nghỉ mát, tắm biển
vài ngày ở nơi đông người để tôi cân bằng tinh thần, cho khuây khỏa. Thấy hợp
lý nên tôi tán thành ý kiến của vợ luôn. Duy bảo thuê taxi, nhưng tôi tiếc tiền
nên bàn đi xe buýt cho rẻ.
Sáng hôm sau, mỗi người xách một túi tư trang ra bến
xe. Thấy chiếc xe buýt vừa là là ghé bến, cửa tự động mở, tôi sấn tới định leo
lên thì bị Duy kéo áo lôi giật lại, mắng xơi xơi:
- Ông bây giờ mất trí rồi hay sao mà bạ xe nào cũng leo lên thế? Nó cho ông đi
Văn Điển bây giờ! Ông muốn đi Văn Điển hả? Xe này đi Văn Điển thật đấy, ông lên
đi, nó đưa đi luôn bây giờ!
- Thì tôi vừa từ Văn Điển về xong! - Tôi vừa nói vừa
cười.
Duy
không hiểu ngụ ý câu nói ấy, liền lườm tôi một cái sắc lẹm, kèm theo cái nguẩy
người quật cả cánh lưng to bè vào mặt tôi như muốn bảo: “Ra điều bà đây đang
tức bực lắm rồi”. Những người đứng chờ xe buýt thấy thế bật cười thành tiếng
làm tôi ngượng chín người.
Chiếc xe buýt nữa là là đến. Tôi vẫn đứng đực ra
không dám lên, sợ lên nhầm xe lại bị ăn mắng lần nữa, thì Duy giục:
- Lên đi chứ! Ông định đợi chuyến sau à? Xe sang Gia Lâm đấy. Không hiểu sao
mấy hôm nay tôi thấy ông cứ đờ đờ đẫn đẫn như kẻ mất hồn. Hay bị con mụ nào bỏ
bùa bắt mất cả hồn lẫn vía thật rồi?
Đúng
thế, mấy hôm nay, bất cứ lúc nào và làm gì, nhất cử nhất động tôi đều bị Duy
mắng. Mắng liên tục, hình như có người xúi khiến Duy mắng tôi vậy. Trước đây có
thế bao giờ đâu. Duy cưng chiều tôi từ miếng ăn giấc ngủ; tôi không thích ăn
thứ gì là Duy cũng kiêng thứ ấy theo. Tôi không thích ăn xà lách sống, Duy cũng
không bao giờ mua nữa, mặc dù đó là món khoái khẩu của mình. Duy từng bảo: “Ăn
rau sống cho mát ruột”, vậy là Duy thay đĩa rau sống bằng đĩa dưa chuột gọt vỏ
thái lát ngon lành để chiều khẩu vị của tôi.
Thấy tôi
không ăn thịt trâu, ngay cả thịt bò Duy cũng không mua về, sợ mua nhầm phải
thịt trâu giả bò. Chuyện người bán hàng thiếu thật thà, lừa các “thượng đế”
bán thịt trâu bảo thịt bò vốn là chuyện thường ngày nên Duy sợ bị lừa.
Lý do
tôi không ăn thịt trâu cũng có nguyên do cả: Một lần xem người ta giết trâu,
tôi thấy cảnh tượng ấy quá dã man. Một người đàn ông lực lưỡng, mặt đỏ phừng
phừng, tay trái nắm chặt sợi dây thừng sát sẹo mũi con trâu, tay phải vung búa
giáng một nhát đánh “đốp” trúng giữa đỉnh thóp. Con vật hộc lên một tiếng, bốn
chân khuỵu xuống tức thì. Hai mắt nó trợn trừng trắng dã, nhìn kẻ vừa hạ sát
mình đầy căm hận rồi gục xuống, nhớt dãi phì ra đầy hai bên mép.
Họ xúm
lại, người cắt cổ hứng tiết, kẻ chặt chân, người mổ bụng lột da. Một đống ruột
già ruột non tuôn ra cùng cái dạ dày căng phồng bùng nhùng. Họ rạch dao, tuôn ra đống phân
lỏng để lựa lấy lớp lá sách giòn, nhai cho khoái khẩu. Tôi rùng mình khi thấy
những con sán xơ mít dèn dẹt, hồng hồng đang ngọ nguậy, tự ngắt mình ra từng
khúc rồi bò tứ tung trong đống hỗn độn phân, cỏ lẫn máu đọng thành vũng trên
mặt đất. Nếu xem giết trâu vào ban đêm, còn thấy những
con sán dây phát sáng xanh lè như đom đóm, nghĩ đến mà kinh. Tôi sợ thịt trâu
cũng từ lần chứng kiến đầy ám ảnh đó.
Xuống xe buýt ở bến Gia Lâm, Duy nắm tay tôi
lôi xềnh xệch sang bến xe khách đi Hải Phòng. Rồi kéo tuột tôi lên chiếc xe của
hãng Hoàng Long,
lúc này đã có chừng nửa số khách. Duy ấn vai tôi xuống một chiếc ghế trống. Tôi
còn chưa kịp dịch người vào phía trong, Duy đã gắt:
- Dịch vào! Định ngồi mình ông một ghế chắc?
Nhà xe người ta chẳng để yên cho ông đâu. Muốn ngồi một mình thì trả tiền gấp
đôi mà ngồi!
Suốt dọc
đường từ Gia Lâm về Hải Phòng, hễ tôi mở miệng nói câu gì, bất kể đúng sai, Duy
cũng chặn họng bằng một câu: “Thôi ông im đi!” - đánh bốp một cái. Ngay cả
khi tôi chỉ hơi ngọ nguậy chạm vào người, Duy cũng “ứ ừ”, lườm nguýt khiến tôi
run bần bật.
Một bà
ngồi ghế trên chắc bị say xe nên xoa dầu gió. Mùi dầu nồng nặc khó chịu, tôi
lấy khăn mùi xoa bịt mũi lại cũng bị Duy mắng:
- Gớm
chết, mùi dầu thơm thế mà cũng khó chịu… sĩ diện. Bịt mồm với chả che
miệng!
Xuống
đến biển, Duy lại lôi xềnh xệch tôi và cái túi vào nhà nghỉ. Cậu nhân viên lễ
tân bảo:
- Bác
cho cháu mượn chứng minh thư ạ.
Tôi nhắc:
- Cả giấy đăng ký kết hôn nữa chứ?
Cậu nhân viên cười hề hề:
- Không cần đâu bác ạ.
- Sao lại không cần? Nhỡ hai chúng tớ không phải vợ chồng thì sao?
- Hề hề, dù hai bác không phải vợ chồng thì cứ vô tư nghỉ ở đây cả tháng cũng
chẳng sao. Thời buổi bây giờ mà còn bắt khách xuất trình giấy kết hôn thì nhà nghỉ,
khách sạn chỉ để ngắm thôi các bác ạ!
Phần II
Cõi thiên đường
(2)
Nói xong, anh nhân viên nhà nghỉ cười hề hề lần nữa - một điệu cười
“tra muối” cốt để làm mặn thêm câu đùa của mình. Giữ nguyên vẻ mặt giả lả ấy,
anh ta xách giúp chúng tôi mỗi tay một túi rồi dẫn lên nhận phòng trên tầng
hai.
Vừa đợi
bóng anh ta đi khuất hẳn, Duy đã quay sang mắng tôi xơi xơi:
- Ông dở
chứng ngu từ bao giờ thế? Nó không hỏi đăng ký kết hôn thì thôi, ông lại nhắc
nó, đúng là “lạy ông tôi ở bụi này”. Nó mà ngứa tiết đòi xem thật thì sao?
Lúc đi vội quá có cầm theo đâu. Không đủ giấy tờ, nó đuổi thẳng cổ thì đêm nay
ra gốc cây rải nilon mà ngủ à? Hay ông định bắt tôi về nhà lấy? Hai thứ tóc
trên đầu rồi mà vẫn còn dại. Ngu! Biết ông ngu lâu thế này, ngày xưa tôi thà
lấy cái ghế đá công viên còn hơn lấy ông làm chồng!
Tôi lúng
túng phân bua:
- Thì tôi có biết đâu. Ngày xưa tôi với bà đi
du lịch, ở khách sạn nào mà chẳng phải nộp cả chứng minh thư lẫn đăng ký kết
hôn. Giờ thoáng thế này, hóa ra người ta chẳng phải vợ chồng cũng cứ vào ở với
nhau bét nhè được à? Nhà nghỉ, khách sạn bây giờ coi Luật Hôn nhân và Gia đình
chỉ là thứ tượng trưng thôi sao ấy nhỉ? Hèn nào đêm Noel vừa rồi, nhà mình đông
khách, tôi đi thuê phòng cho mấy bác mấy chú nghỉ tạm mà vào chỗ nào cũng lắc
đầu. Họ bảo: “Noel với Tết Tây năm nào mà chẳng “cháy” phòng, bác ơi!”. Cuối
cùng không thuê được, phải về trải chiếu nằm đất, cứ thấy áy náy mãi. Dân mình
bây giờ chơi sang thật, cứ lễ tết là kéo nhau ra Hà Nội ăn chơi chật kín cả
nghìn cái nhà nghỉ. Thật là “khùng” hết biết!
Duy sắp
xếp xong xuôi quần áo và đồ đạc vào tủ, trải lại ga giường, chỉnh lại đệm.
Xong việc, Duy bắt ra biển tắm ngay. Tôi lấy lý do đường xa mệt mỏi, tắm lúc
này không có lợi cho sức khỏe, nhưng Duy nhất định không chịu, cứ bắt đi cho
bằng được. Cực chẳng đã, tôi đành giả vờ kêu đau đầu rồi lăn quay ra giường,
rên rỉ:
- Úi
giời ơi, nhức đầu quá!
Nghe
thế, Duy gắt:
- Ra
biển là để tắm, chứ đâu phải để nằm vật ra như khúc gỗ thế kia!
Mặc kệ Duy càu nhàu, tôi vẫn vờ như đang
đau đớn lắm, hai tay ôm chặt lấy đầu, co người lại như con tôm rồi rên rỉ to
hơn. Tưởng tôi đau thật, không rủ rê được nữa, Duy đành vùng vằng ra biển một
mình. Trước khi đi, bà ấy còn dấn thêm một câu đầy vẻ bực tức:
- Người gì mà cứ ì thân cụ như người mã, suốt ngày chỉ thấy nằm với
nằm... Đúng là đồ lười nhác!
Đợi Duy đi khuất hẳn, tôi thở phào nhẹ
nhõm rồi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ sâu. Trong cơn mơ màng, tôi thấy mình
đang tha thẩn đi dạo trên bờ biển vắng thì bất chợt một chiếc thuyền không
người ghé sát vào bờ. Rồi như có một bàn tay vô hình đẩy mạnh, tôi lọt thỏm lên
thuyền; con thuyền lập tức lao vun vút như lướt trên mây, đưa tôi đến một vùng
đất lạ lùng, chẳng rõ là đảo hoang hay đất liền.
Nơi đó không gian tĩnh mịch, cây cối
xanh tươi um tùm, những chùm quả lạ sai chíu chít, chín vàng rực cả một góc
trời, tỏa hương thơm lịm, ngọt ngào đến ngây ngất.
Cảm thấy
khát cháy cổ, tôi chẳng kịp suy nghĩ gì mà với tay hái luôn hai quả đào mọng nước.
Thế nhưng, chưa kịp cắn miếng nào thì từ hư không, hai vị thiên binh cao lớn đã
hiện ra đứng lù lù trước mặt. Một ông mặt đen râu ria tua tủa như rễ si, một
ông mặt đỏ gay không râu nhưng đôi lông mày xếch ngược lên tận thái dương. Cả
hai ông mắt trắng dã, trợn trừng đảo qua đảo lại đầy nảy lửa, chân giậm uỳnh uỵch
làm rung chuyển cả mặt đất, tay múa chùy, vung đao hầm hừ nạt nộ. Họ túm chặt lấy
tay tôi, quát tháo bắt quả tang tội dám ăn trộm đào quý của Ngọc Hoàng rồi trói
nghiến tôi vào gốc cây cổ thụ.
Biết
mình sai, tôi lí nhí, nói lời xin lỗi nhưng hai vị ấy gạt phắt đi. Họ bảo trên
trời không có lệ xin lỗi; hễ ai trộm cắp, ăn cướp, tham ô, tham nhũng là phải
trị tội thẳng thừng. Của trời bất khả xâm phạm, lấy một phải đền mười. Nói
đoạn, hai ông mặt mày trừng trộ, tay lăm lăm vũ khí, đứng canh giữ hai bên mặc
cho tôi run rẩy vì sợ hãi.
Rồi một
đoàn tiên nữ xiêm y rực rỡ, tha thướt hiện ra, lả lướt múa xung quanh. Thật
chẳng hiểu họ múa làm gì, và múa cho ai xem? Cho tôi ư? Chắc chắn là không rồi.
Cho hai vị thiên binh kia sao? Nhưng mặt mũi họ đang hầm hầm sát khí thế kia cơ
mà! Còn tôi, chân tay bị trói chặt thế này, tâm trí đâu mà xem.
Tôi phản kháng bằng cách nhắm nghiền mắt và ngoảnh mặt
đi. Đã bị bắt bớ, dọa nạt, ai còn thiết gì xem múa hát. Thế nhưng, hễ tôi nhắm
mắt là hai vị thiên binh kia lại quát thét, bắt tôi phải mở ra để xem. Tôi bướng
bỉnh ngoảnh đi, họ lại ép tôi phải nhìn về phía tiên múa. Tôi đã đi gần
khắp gầm trời nước Nam - chưa từng
thấy ở đâu trói ép con người lại bắt xem múa hát như tôi lúc này. Dù uất
ức muốn phản đối, nhưng thấy bộ dạng dữ dằn của hai người bắt giữ tôi, tôi
đành im lặng, rồi muốn ra sao thì ra.
Đúng lúc ấy, Huệ hiện ra. Nàng ấy vờ như vô tình đi
ngang qua rồi thốt lên kinh ngạc:
- Ô... sao anh Phong lại ra nông nỗi này?
Rồi Huệ quay sang hỏi hai vị bắt tôi:
- Sao hai bác lại bắt anh ấy?
Ông mặt đen lạnh lùng đáp:
- Gã này ăn trộm đào quý của nhà trời, chúng tôi bắt
quả tang tại trận. - Hai bác đại xá cho, đây là bạn em. Một hai quả đào đáng là
bao mà phải bắt trói, làm khổ anh ấy thế này?
- Hóa ra là bạn của cô Huệ sao? - Một vị đổi giọng -
Nếu đã là bạn của cô, thì dù có lấy nhâm đan hay ngọc quý của Ngọc Hoàng cũng
chẳng hề gì. Của chùa cả ấy mà!
Phần II
Cõi thiên đường
(3)
Sau đó, họ cởi trói
cho tôi rồi lấy ghế mời tôi ngồi xem các nàng tiên múa. Huệ bảo:
- Đây là chốn thiên
đường, khách khứa ghé thăm ngày đêm không ngớt. Tiệc tùng, múa hát tưng bừng
suốt từ sáng đến đêm, vui sướng vô cùng, chẳng hề khổ cực như chốn trần gian
hay âm phủ đâu anh.
Nơi tôi bị bắt trói và giờ đang “bị” ép
xem múa chính là nơi các tiên nữ tập luyện để biểu diễn trong những cuộc hội hè
đình đám, chào đón khách khứa của nhà Trời. Huệ chìa cho tôi xem một tờ giấy
mời rồi rủ tôi cùng đi dự tiệc khao tại tư dinh của một vị Biểu Tào Phán quan nào đó. Thấy
lạ lẫm và hiếu kỳ, tôi hỏi Huệ:
- Biểu Tào là vị thần nào? Ông ta làm
việc gì và chức vị ra sao hả em?
Huệ không trả lời ngay mà hỏi ngược lại
tôi:
- Hàng năm nhà anh có cúng Giao thừa
không? Mâm lễ cúng ngoài trời ấy?
- Có chứ, năm nào bà xã anh cũng cúng
một mâm - tôi đáp.
- Tục “tống cựu nghênh tân” ở trần gian
đấy! - Huệ giải thích - Trên trời có 12 vị Hành khiển, đó là 12 vị Thời thần (thần thời gian). Ngọc Hoàng sai mỗi vị xuống làm
việc dưới trần một năm theo âm lịch cùng thần hộ vệ của mình là các Tào Phán quan. Mâm vật phẩm ấy mang ý
nghĩa lễ tiễn hai vị Thời thần cũ về trời, đón hai vị Thời thần mới xuống làm
việc. Tuần tự quay vòng tính theo mười hai con giáp, luân phiên mỗi năm một vị:
- Chu Vương Hành khiển, thần hộ vệ là Lý Tào Phán quan, trông coi năm Tý.
- Triệu Vương Hành khiển, thần hộ vệ là Khúc Tào Phán quan, trông coi năm Sửu.
- Ngụy Vương Hành khiển, thần hộ vệ là Tiêu Tào Phán quan, trông coi năm Dần.
- Trịnh Vương Hành khiển, thần hộ vệ là Liễu Tào Phán quan, trông coi năm Mão.
- Sở Vương Hành khiển, thần hộ vệ là Biểu Tào Phán quan, trông coi năm Thìn.
- Ngô Vương Hành khiển, thần hộ vệ là Hứa Tào Phán quan, trông coi năm Tỵ.
- Tần Vương Hành khiển, thần hộ vệ là Nhân Tào Phán quan, trông coi năm Ngọ.
- Tống Vương Hành khiển, thần hộ vệ là Lâm Tào Phán quan, trông coi năm Mùi.
- Tề Vương Hành khiển, thần hộ vệ là Tống Tào Phán quan, trông coi năm Thân.
- Lỗ Vương Hành khiển, thần hộ vệ là Cựu Tào Phán quan, trông coi năm Dậu.
- Việt Vương Hành khiển, thần hộ vệ là Thành Tào Phán quan, trông coi năm Tuất.
- Lưu Vương Hành khiển, thần hộ vệ là Nguyễn Tào Phán quan, trông coi năm Hợi.
Vị Biểu Tào mở tiệc hôm nay chính là một trong số mười hai vị Phán
quan đã kể ở trên. Cứ theo vòng tuần hoàn của 12 con Giáp (thập nhị chi): Tý,
Sửu, Dần, Mão... mỗi năm sẽ ứng với một vị Hành khiển tương ứng. Xuốn cai
quản cõi trần, vị Hành khiển ấy lại cắp bó lúa, cùng thần hộ vệ Phán quan
vai đeo tay nải, cưỡi mây đáp xuống hạ giới để mang mùa xuân mới đến cho muôn
nhà. Giàu cũng như nghèo, mâm cao cỗ đầy hay lễ mọn lòng thành, các vị quan ấy
chẳng mấy bận tâm. Cứ đến mỗi nhà, các Ngài lại ban cho một nắm thóc. Riêng nhà
nghèo không có mâm cúng, Hành khiển lại thương tình cho gấp đôi, gấp ba với ý
nguyện cầu mong năm mới họ làm ăn khấm khá hơn.
Phán quan theo sau để thu vật lễ, mà hai
thứ quan trọng nhất là rượu và tiền vàng. Đặc biệt là những tệp “đô la địa phủ”
- thứ vốn đã được “xã hội hóa” trong văn hóa tâm linh người Việt vài thập kỷ
nay - lại là thứ các vị mê nhất. Lúc nào các Ngài cũng vơ lấy tiền vàng bỏ vào
tay nải đầu tiên rồi mới đến các thứ khác, bảo rằng đem về nhập kho nhà Trời.
Chẳng biết ông Trời có thực sự nhận được
chai rượu, con gà luộc hay chiếc thủ lợn nào không? Hay các quan chia năm xẻ
bảy, hưởng thụ với nhau cả rồi? Người trần mắt thịt chỉ biết thành tâm cúng
bái, chứ ai thấy được các quan đem lễ vật đi đâu, nhập vào kho trời hay kho đất
nào? Đã là Trời, là thiên đường thì thiếu gì của ngon vật lạ, lẽ nào lại đi
dùng những đồ nguội lạnh, ruồi bâu của hạ giới.
Phần II
Cõi thiên đường
(4)
Trải qua những năm tháng làm việc nơi trần thế, quen biết đủ mọi chức sắc
từ thần sông, thần núi đến Thổ địa các cấp, các vị Phán quan đã tường tận mọi
chiêu trò của cõi người. Họ hiểu rõ thứ gì thực giá trị, thứ gì là hư danh; đâu
là vàng ròng, đâu là bùn cát. Phải nói rằng, các vị ấy cũng ma lanh, ma bùn,
“ma quá” chẳng kém gì đám quan cai trị dưới trần.
Cách đây
vài chục năm, đất đai ở các thành phố lớn rẻ như bèo, hàng xóm láng giềng thân
nhau, quý nhau có thể cắt cho vài mét vuông không phải đắn đo suy nghĩ. Thế
rồi sang thập kỷ 90, giá đất “nhảy mú” chóng mặt. Những kẻ buôn đất hôm trước
vừa mua một mảnh, ngủ một đêm dậy đã lãi gấp đôi, gấp ba, bỗng chốc hóa thành
đại gia bất động sản. Thành những gương mặt núng nính thịt, tha hồ ăn to nói
lớn, thậm chí thao túng được cả “thần linh Thổ địa”.
Năm Canh
Thìn (2000), Sở Vương Hành khiển và Biểu Tào Phán quan xuống trần nhậm chức.
Đến kỳ mãn hạn vào cuối năm, khi bàn giao lại cho Ngô Vương Hành khiển và Hứa
Tào Phán quan cai quản năm Tân Tỵ (2001), Biểu Tào nhất quyết không về trời.
Ông ta lấy cớ ở lại “đi du lịch”. Thực chất, về trời cũng chỉ quanh quẩn uống
rượu, đánh cờ, nhàn rỗi đến tẻ nhạt. Ở lại trần gian rong chơi chẳng sướng hơn
sao, vì trần gian luôn đầy rẫy của ngon vật lạ cho họ bù khú chén chú chén anh.
Ông ta -
Biểu Tào - đóng vai một Việt kiều về nước tìm cơ hội làm ăn. Mục tiêu của ông
ta là bãi đất hoang tại một xã ngoại thành. Nơi ấy vốn có một dự án “cực kỳ quy
mô”, được Hội đồng nhân dân các nhiệm kỳ trước ra nghị quyết xây dựng Nhà văn
hóa xã với đủ loại hình: hội trường, thư viện, cho đến sân bóng đá, tennis, cầu
lông... Thế nhưng, vì huyện chưa rót kinh phí nên đất vẫn để cỏ mọc xanh rì.
Đám trẻ con trong xã tranh thủ chiều chiều ra đó đá bóng, thả diều. Giờ đây,
khi có “doanh nhân Việt kiều” muốn đầu tư, chính quyền sẵn sàng nhường đất
trước. Họ tặc lưỡi: bao giờ có tiền thì xây nhà văn hóa sau, thiếu gì những khu
đất khác. Kế hoạch còn trên giấy, lo gì!
Xã hạ
quyết tâm lãnh đạo nhân dân bàn giao đất cho vị doanh nhân “Việt kiều” nọ. Thực
ra, xã không gật đầu cũng chẳng xong, bởi huyện đã phê, tỉnh đã duyệt; cấp dưới
sao dám trái lệnh cấp trên? Vả lại, cái viễn cảnh xã mình sắp “hóa rồng” thành
người đô thị đã cận kề. Dân thành thị ai lại đi “bán mặt cho đất, bán lưng cho
trời”, khổ mãi rồi, dây vào bùn đất cho cháy nắng sạm da thì còn ra thể thống
gì. Đã là người thành thị thì da dẻ phải trắng nõn, hồng hào cho ra cái dáng người
phố thị!
Không
chỉ khu đất quy hoạch, “quan trời” còn lấy thêm dăm bảy mẫu ruộng lúa đang xanh
tốt, thâu tóm cả khu đầm hồ mà tập thể nông dân đang đấu thầu thả cá, nuôi tôm.
Vị Phán quan nọ liền phù phép, biến những đồng đô-la âm phủ thành tiền trần gian
đem đền bù cho họ. Mỗi mét vuông “bờ xôi ruộng mật" chỉ đổi lấy 25.000
đồng – cái giá được gọi là “hỗ trợ hoa màu”. Bởi đất đai là của thiên nhiên, do
Nhà nước quản lý, Nhà nước muốn thu hồi lúc nào chẳng được… Thân phận dân đen
thấp cổ bé họng, cấm được kêu ca!
Những
người nông dân chất phác đành bấm bụng cầm xấp tiền đền bù, lòng vô cùng xót
xa mà vẫn phải nhận. Rồi đem tiền sửa nhà sửa cửa, sắm tivi, tủ lạnh, tậu xe
máy; cho con cái đi hát karaoke, học nhảy đầm để nếm mùi “văn minh” bằng người
thành thị cho đã cái đời. Và thong dong bát phố, hai tay thọc túi quần, hít
khói tàu xe thay cơm mà sung sướng, cần gì giữ đất giữ ruộng cho cực thân!
Nhưng
ngày vui ngắn chẳng tày gang. Khi tiền cạn, đất không một tấc cắm dùi, cả gia
đình đành dắt díu nhau lên thành phố. Chồng làm cửu vạn, vợ đi buôn đồng nát,
con cái đứa đánh giày, đứa bán báo rong... Lúc ấy, họ mới thực sự “tận hưởng”
trọn vẹn là người thành thị; để biết ơn “trời” đã cho họ một chuyến đổi đời...
trắng tay cho quên đất!
Phần II
Cõi thiên đường
(5)
Lập dự án xong, ông ta
cho quây kín mít, vòng trong che chắn bằng tôn lá, vòng ngoài giăng mấy lớp kẽm
gai sắc nhọn. Vài ngôi nhà cấp bốn mọc lên tạm bợ, quanh năm cửa đóng then cài,
im lìm nằm chờ ngày phân lô bán nền cho giới nhà giàu trên phố mua về để đấy
đầu cơ. Những bờ xôi ruộng mật vốn là sinh kế, là máu thịt của cha ông để lại,
nay bỗng chốc trở thành món hàng tích trữ. Một vốn bốn lời, thậm chí lãi gấp
vài trăm lần, miếng bánh đất đai bị xẻ thịt không thương tiếc. Từ “quan trên” đến
“quan dưới” cấu kết chặt chẽ; kẻ nuốt miếng to, người rỉa rói từ bờ mương, lòng
máng đến gò đống. Ngay cả những khoảnh bờ thửa, bờ vùng vốn chẳng nằm trong diện tích sổ sách nào,
cũng bị họ phù phép để chia chác. Họ phất lên nhanh chóng, xây dựng sự giàu
sang trên chính nỗi xót xa và sự cùng cực của những người nông dân mất đất.
Trên đường
tiến về phía Cổng Trời để dự tiệc khao bằng chiếc thiên xa được kéo bởi hai
con ngựa tiên tung cánh bay vút giữa tầng không. Tiếng vó ngựa bay vun vút giữa
những đám mây ngũ sắc huyền ảo.
Bỗng một
người cưỡi mo cau lừ lừ bay tới. Nhìn mái tóc dở dài dở ngắn buộc túm sau gáy -
kiểu tóc của đám nghệ sĩ nửa mùa, đám đồng cô hay người đồng tính - tôi cứ ngỡ
đó là mụ phù thủy cưỡi chổi đi bắt cóc các nàng công chúa vì ghen tài, ghen sắc.
Người ấy bay sát lại, lượn quanh chúng tôi rồi giơ máy ảnh chụp lia lịa. Chụp
xong, người đó cười tươi phớ lớ, phô ra toàn bộ cả lợi lẫn răng.
Tôi nhìn người ấy, người ấy nhìn tôi, rồi bất ngờ cả hai cùng reo to, cùng
gọi tên nhau:
- Tung à!
- Phong à!
Rồi người ấy trầm trồ:
- Chà chà, số ông thế mà hên, “cặp bồ” được cả với tiên cơ đấy? Ghê thật!
Ghê thật! Số ông đỏ chói, cờ hồng phất phới tận Mạc Tư Kho lúc nào thế nhỉ?
Tôi vội phân bua:
- Bồ bịch gì đâu, bạn thời lính với nhau ấy mà! Còn ông, đi đâu mà lên
được đây?
Người ấy giải thích:
- Tớ lên du lịch vũ trụ xem có gì lạ để về viết lách cho vui. Chuyện trần
gian viết mãi cũng nhàm, chẳng còn hứng thú gì nữa.
Tôi hỏi:
- Chán viết văn, sao ông không chuyển sang làm thơ?
- Làm thơ để làm gì cơ chứ! Giờ mấy ai mua thơ, đọc thơ đâu. In xong cũng
chỉ để “tình biếu không” cho thiên hạ bày làm sang giá sách.
- Sao ông nói thế? Chẳng phải các câu lạc bộ thơ từ phường xã đến quận
huyện vẫn hoạt động sôi nổi đó sao?
- Ối dào, toàn những người rỗi việc! Mấy ông nghỉ hưu, mấy bà nội trợ làm
thơ để “thủ dâm tinh thần” là chính!
- Sao ông lại loạn ngôn, ác miệng vậy?
- Không loạn ngôn tí nào, sự thật đấy! Không có việc gì làm nên sinh ra thơ
thẩn, rồi tự đọc, tự ngâm, tự sướng với nhau... như thế chẳng chẳng gọi là “thủ
dâm tinh thần” sao?
- Viết văn, làm thơ là để làm đẹp, làm vui cho cuộc đời. Cùng là giới cầm
bút, sao ông lại buông lời bỉ báng nhau cay nghiệt thế?
Nghe Tung giải thích thế, tôi im lặng
chẳng nói gì thêm, đành nhe răng cười trừ cho qua chuyện. Tới cổng trời thì
chúng tôi chia tay nhau. Tung tiếp tục cưỡi mo cau bay về phía các vì sao trước
mặt. Trước khi bay đi, Tung còn nhắn lại:
- Mai về có gì hay, Phong kể cho mình
nghe nhé!
Tôi nói bâng quơ:
- Tay này có phép từ bao giờ nhỉ?
Huệ bảo:
- Bạn anh đang mơ đấy! Hồn vía đang treo
lên mây xanh rồi!
Xin kể vài đoạn về con người này: trời
xui đất khiến thế nào, Tung tập tọe viết văn, viết truyện, ôm mộng trở thành
nhà văn, nhà vẽ. Nhà văn chưa thành, nhưng về khoản “nhà vẽ”, Tung đã ngo
ngoe sát mép nước, bôi bẩn cả nghìn trang giấy. Biết mộng ước của Tung, có
người khuyên:
- Lao vào hành xác chốn văn chương làm
gì cho khổ? Các bậc lão luyện trong nghề nhiều lúc còn định quăng bút nữa là.
Làm nghề khác cho đỡ khổ.
Nghe khuyên, có lúc Tung nản chí định
buông xuôi. Nhưng niềm đam mê đã gặm nhấm vào tận nếp nhăn não bộ, khó lòng rứt
bỏ. Mà trên văn đàn hiện tại, hàng nghìn người vẫn đang “hành xác” đó thôi, chỉ
sợ không có năng khiếu để mà hành xác.
Nhiều tiến sĩ học hói cả đầu cũng chỉ
mục đích để làm quan, hay giữ một chân dạy ở trường nào đó rồi đi bán “cháo
phổi” thuê cho các lò luyện thi đại học để lấy tiền tươi về xây nhà lầu; hoặc
ém mình trong phòng nghiên cứu và giỏi chê bai, chứ mấy ai dám theo nghiệp cầm
bút khổ ải mà gì.
Đất nước nửa thế kỷ chiến tranh, chiến
thắng hào hùng cả hai đế quốc và một phát xít, làm nên những trận Điện Biên Phú
lây lừng tầm cỡ thế giới, vậy mà chưa có một tác phẩm văn chương nào tương
xứng, thế có tiếc không? Vậy mà lúc nào cũng tự tâng bốc: “Ta thông minh, ta
học giỏi...”. Chưa đâu! Nếu thông minh và học giỏi, sao các bác chưa cho nhân
dân anh hùng này những tác phẩm tầm cỡ như “Chiến tranh và Hòa bình” (12), hay
“Sông Đông êm đềm” (13) để gửi đi giật giải Nobel?...
--------------------------
(12):
Tiểu thuyết của văn hào Nga Lev.Tolstoi.
(13):
Tiểu thuyết của nhà văn hiện đại Nga Mikhain Sholokhov.
Phần II
Cõi thiên đường
(6)
Các vị chỉ giỏi lối đánh “du kích” trên mặt chữ, chắp vá vài sự việc cỏn
con rồi xào nấu thành thứ hàng nội địa thiếu vắng hơi thở thời đại và cốt cách
dân tộc. Những tác phẩm ấy yếu nhược về tính sử thi, còn tính nhân văn thì mờ
nhạt, manh mún.
Trên văn đàn vẫn truyền tai nhau một giai thoại: Một nhà văn vì quá bực bội
trước những lời chê ỏng chê eo của tay phê bình nọ, đã thách hắn viết thử một
cuốn truyện xem “ra ngô ra khoai” gì không, thay vì cứ mãi “dạy đĩ vén xống”.
Gã phê bình thản nhiên dẫn câu chuyện vui nước ngoài:
- Con gà đẻ cả quả trứng, nhưng nó có bao giờ biết món trứng rán ngon thế
nào đâu!
Nhà văn nọ bèn gõ ba toong vào không khí, đáp lại:
- Thế ông có biết cái sự đẻ của con gà nó đau đớn, “rát...” đến mức nào
không?
Với những suy nghĩ về
nền văn học nước nhà chưa có được đỉnh cao, cả việc tóm được cái giai thoại
vui vui kể trên làm nền cho Tung xây dựng một quyết tâm viết. Tung viết như bị ốp
đồng, mê cuồng trong viết lách.
Chẳng rõ do ở bẩn hay tại nằm ổ rơm mà
chấy rận sinh sôi nảy nở như sung. Năm ấy trời rét căm căm, “rét ông chưa
qua, rét bà lại đến”, cái rét tàn rét hại kèm mưa phùn gió bấc lai rai cả
tháng trời. Chỉ đợi ngày nào hửng chút nắng ấm, người lớn trẻ con lại kéo nhau
lên mặt đê sưởi nắng, bắt chấy rận cho nhau.
Các bà già vạch diềm áo, nhặt nhưng con
rận cho ngay vào mồm, cắn kêu câng cấc. Có người rận nhiều quá bắt không xuể,
bèn rải quần áo, khăn vấn ra mâm đồng, dùng vỏ chai xiết như xiết đậu xanh để
giết rận. Tiếng rận nổ lép bép, máu dính đỏ tím lấm tấm khắp mặt mâm. Vậy mà
chẳng hiểu sao, có anh nhà thơ nằm nhờ ổ rơm một đêm lại tưởng tượng ra đó là
“giường tiên” với “chiếu ngọc” để dệt thành những vần thơ, trang văn rất
chi lãng mạn cách mạng chứ lị?
Riêng gã, cứ nghĩ tới ổ rơm là lại kinh
khiếp cái cảnh chấy rận bâu đầy. Gã xin “vái cả mười đời nón lá” nhà ổ rơm.
Gã căm thù lũ ký sinh trùng ấy, bởi chính chúng đã đẩy gã vào cảnh phải sống
với người dì ghẻ cay nghiệt. Vì chúng - những con chấy, con rận chuyên rúc
trong diềm vải hút máu người - mà cuộc đời gã chẳng bao giờ có được một tuổi
thơ êm đềm may mắn.
Ngày ngày, chị Bút đến bắt chấy rận giúp bà cháu gã. Chị đem cho gã dăm tấm
mía de; khi tước mía ăn, vỏ mía sắc như cật nứa cứa rách mép, rách lưỡi, bã mía
dính đỏ máu. Tay bắt chấy cho bà cháu gã, mồm chị Bút tỉ tót những lời đường mật:
- Bà chẳng đẻ ra con cũng như bà đã đẻ con, con sẽ coi bà như mẹ đẻ. Con sẽ
thay cô Hai phụng dưỡng bà, chăm chút con anh Hai như con mình...
Thế nhưng, khi đã yên vị làm vợ bố gã, dì ghẻ
thay đổi hẳn thái độ. Ký ức đời gã tràn ứ đầu ngọn bút, chảy tràn lên từng
trang giấy, vẽ lại chân dung một người mẹ ghẻ cay nghiệt, chao chát. Chẳng rõ
bà ghét gã ở điểm gì mà cứ thượng cẳng chân, hạ cùi tay lên thân hình còm nhom
của đứa trẻ chín, mười tuổi mồ côi mẹ theo cha về quê tản cư ngày ấy. Đánh mỏi
tay, dì lại huy động đến mồm, tru tréo “khai quật” bật săng tận cụ tổ ngũ đại
nhà gã mà chửi cho sướng miệng. Không sao, cụ ngũ đại là của chung dòng họ, lại
khuất núi từ đời tám hoánh, gã đâu biết mặt cụ để mà xót thương.
- A! Bà đào bới xới rễ nhà mày thế mà mặt mày cứ trân trân như đĩ trần
không váy. Thánh sư cha con đĩ đẻ ra mẹ mày!
Đến nước ấy thì gã không thể chịu đựng
được nữa. “Con đĩ đẻ ra mẹ” gã - người bà ngoại mà gã hết lòng yêu thương và
kính trọng nhất đời. Người bà trước khi dì ghẻ lấy bố gã đã từng đùm bọc, chăm
bẵm cả tuổi ấu thơ của gã ở quê những năm thơ ấu.
Tính theo cấp bậc họ hàng, dì ghẻ còn
phải gọi bà ngoại gã là bà trẻ, gọi mẹ gã bằng cô: “Cháu lấy chồng cô, thóc lúa
đổ bồ, giống má nhà ta!”. Lấy bố gã rồi, gã vẫn quen lệ cũ gọi dì ghẻ là chị.
Bà có chum thóc nếp để dành ăn Tết, chị em dì ghẻ lẻn vào lấy trộm về xay ăn
dần. Vườn củ bột của bà sắp thu hoạch cũng bị chị em dì đêm đến rủ nhau đào
trộm, gánh đi chợ bán. Bà ngoại tiếc của, trồng ngược cây chuối trước cổng, vẽ
vôi thành hình mắt, mũi, mồm lên củ chuối rồi bắc ghế chửi rủa suốt sáng trưa
chiều tối. Mỗi câu chửi, bà lại lấy cả chùm gai găng, gai bồ kết cắm vào mắt
mũi kẻ ăn trộm thóc, trộm củ bột cho chúng đui mù thui chột; nhưng hai kẻ ăn
trộm vẫn sống nhơn nhơn.
Trong góc khuất tâm hồn gã, bà ngoại là
cõi thiêng liêng nhất, vậy mà dì ghẻ dám xúc phạm. Bao nhiêu tội tầy đình của
chị em dì, gã đã cho qua, nhưng lần xúc phạm vào cõi thiêng này thì gã không
thể nhẫn nhịn thêm được nữa. Gã phải cãi lại:
- Chị không được láo! Bà tôi, mẹ tôi còn
là bề trên của chị!
Thế là dì ghẻ túm lấy, dúi gã ngã lăn ra
đất rồi tay thụi, chân đạp túi bụi. May cho đời gã, có người hàng xóm tốt bụng
xông vào ngăn lại, nếu không gã đã xuống “ngủ với giun” ở nghĩa trang Hợp
Thiện, Quỳnh Lôi từ năm 1950 rồi, còn đâu cái đầu ương bướng để mà mộng mị
chuyện văn chương chữ nghĩa.
Vừa thấy bóng dáng chồng bước vào cửa, dì ghẻ đã vội nghiến răng, trợn
mắt, cất tiếng bù lu bù loa:
- Ối giời cao đất dày ơi! Xem cái giống “quý tử’ nhà anh kìa! Nó vừa vác gậy định
hành hung, đánh đuổi mẹ con tôi đấy. Phen này mẹ con tôi phải khăn gói về quê
thôi, chứ ở lại cái nhà này thì có ngày bỏ mạng dưới tay nó mất thôi!
*****
Phần II
Cõi thiên đường
(7)
Chẳng cần
biết lỗi tại mẹ hay con, ông bố lại trút thêm xuống đầu gã một trận đòn nhừ tử.
Cũng may nhờ có anh hàng xóm can ngăn, gã mới thoát nạn. Quá khiếp sợ những lằn
roi đòn thù ấy, gã bỏ nhà ra đi, ôm cái bụng rỗng lang thang hết phố này qua
phố khác. Đến khi đói lả, gã gục xuống dưới một mái hiên. Lúc mở mắt ra, gã thấy
mình đang nằm trên tấm phản thơm tho, đầu lưỡi vẫn còn đọng lại vị ngọt thanh của
sữa. Gã khẽ liếm môi, cố tận hưởng chút dư vị ngọt ngào mà gã ngỡ là của “ông Bụt,
bà Tiên” đã bón cho mình trong đêm ấy.
“Ôi! Cậu mợ ơi, nó tỉnh rồi!”
Nghe tiếng reo, gã co rúm người, lăn vội
vào góc giường, hai tay ôm chặt lấy đầu. Gã chuẩn bị tâm thế để nếu người ta có
đánh, có thọi vào đâu cũng được, chỉ xin họ chừa cái đầu ra để sau này gã còn
viết văn, viết truyện!
Trái với nỗi sợ hãi của gã, vợ chồng chủ
nhà hiện ra đầy nền nã trong bộ pijama màu xanh da trời, trông rất hợp với ánh
đèn và màu ve tường. Họ mừng rỡ ghé sát tận mặt gã, hỏi han:
-
Tỉnh rồi hả? Chắc con đói lắm phải không? Thương quá!
Đã bốn năm kể từ ngày mẹ mất, chưa bao giờ gã được nghe những lời nựng nịu
dịu dàng đến thế. Trống ngực đã bớt đập thình thịch, nhưng lòng gã vẫn chưa hết
bàng hoàng. Người chồng xốc nách dắt gã sang phòng ăn đã có bát cháo gà mà
chị Sen (Ôsin) vừa mua về ngay lúc thấy gã tỉnh lại.
Vợ chồng họ hỏi về hoàn cảnh gia đình,
gã kể rành rọt từng sự việc, lý do vì sao phải bỏ nhà đi. Thấy gã nói năng đâu
ra đấy, thuật chuyện lưu loát, vợ chồng họ thích và có cảm tình với gã ngay từ
phút đầu. Người chồng bảo:
- Hoàn cảnh của con thế thì về nhà làm
gì cho khổ. Ở đây làm con nuôi cậu mợ đi!
- Vâng! - Như sợ hai người đổi ý, gã đáp
rất nhanh.
Người chồng là bác sĩ làm ở một bệnh
viện, người vợ là giáo viên nên gia đình họ có một phòng đọc với khá nhiều sách
báo và các loại tiểu thuyết. Hàng ngày, gã lấy truyện trên giá sách đọc say
sưa. Thấy gã chăm đọc sách, người bố nuôi hỏi:
- Con học lớp mấy rồi?
Dạ thưa
cậu, con đang học dở lớp Nhất ạ. Mợ ra mấy đề Toán, đề Văn cho làm thử. Mợ
hỏi về tên những vị anh hùng lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống quân Tống,
Nguyên, Minh, Thanh. Con sông nào to và dài nhất Việt Nam? Toán có bài nó làm
đúng, có bài sai đáp số, nhưng các câu hỏi khác nó đều trả lời trôi chảy. Mợ thử
trí thông minh của gã bằng một bài toán đố mẹo: “Có một đàn vịt bơi trên hồ nước. Hai con bơi trước, bơi trước hai con;
hai con bơi sau, bơi sau hai con; hai con bơi giữa, bơi giữa hai con. Con thử
tính xem đàn vịt có bao nhiêu con?”.
Nhẩm tính một lát, gã trả lời:
- Thưa cậu mợ, đàn vịt có bốn con ạ.
Cả hai người cùng reo lên:
- Con giỏi lắm! Mai cậu mợ sẽ cho con đi học tiếp.
Khi mợ nuôi mang thai, ông bà nội ngoại hai bên vừa cười vừa nói với nhau
trong bữa tiệc mừng:
- Thằng con nuôi đúng là đứa trẻ “đem lại lộc”. Mới nhận nuôi nó vài tháng mà
anh chị đã có tin mừng ngay. Vậy mà cứ khư khư không tin, để chậm mất bao nhiêu
năm. Nếu không thì chúng tôi đã có cháu nội, ông bà bên nhà đã có cháu ngoại để
sai vặt từ lâu rồi.
Con đường
học hành của gã như bị ma ám nên chẳng đi đến đâu. Hồi mẹ còn sống, gã đi
học được vài lớp đã phải nghỉ để đi tản cư. Về quê, gã học nhờ trường mở ở
đình làng; học trò quá đông, một thầy giáo phải dạy cùng lúc ba lớp. Trên
tay thầy cầm ba cuốn sách giáo khoa khác nhau để ra bài: lớp tư thầy ra đề tập
làm văn, lớp ba thầy ra bài đức giục, lớp nhì thầy cho chép đề toán. Ba lớp
nhồi nhét chung một phòng, gần một trăm đứa trẻ vừa học vừa cấu chí nhau, ồn ào
như cái chợ vỡ.
Hồi cư về Hà Nội, gã lại phải vừa bế em,
vừa đi học buổi đực buổi cái. Dẫu được bố mẹ nuôi cho đi học tiếp, cái “dớp”
quỷ ám ấy vẫn cứ ngáng trở. Pháp thất thủ tại Điện Biên Phủ, Hiệp định
Giơ-ne-vơ chia cắt đất nước thành hai miền. Quân đội Pháp rút dần vào Nam. Cậu
mợ nuôi vốn làm việc cho Tây nên cả nhà di cư vào Nam, định mang gã theo cùng.
Nhưng ngay tại sân bay Gia Lâm, định mệnh xui khiến gã gặp lại bố đẻ đi tiễn
bạn. Trông thấy, ông giữ gã lại. Cậu mợ nuôi không muốn rắc rối lúc đi xa nên
khuyên gã trở về với bố đẻ, để sống giữa những cái lườm nguýt, chửi chó
mắng mèo, đá thúng đụng nia. Suốt ngày gã phải nghe cái giọng inh tai nhức óc:
“Quân ngay lưng rong róng, quen ăn bám váy bà, ăn tranh cơm của con bà”.
Phần II
Cõi thiên đường
(8)
Mấy năm sống ở nhà bố
mẹ nuôi sung sướng bao nhiêu thì nay khổ nhục bù lại bấy nhiêu. Xin việc chẳng
nơi nào nhận vì gã chưa đủ tuổi lao động. Bố gã biền biệt buôn bán xa nhà, cả
tháng mới tạt về nhà vài ngày rồi lại tất tả đi chuyến khác. Gã tha thiết xin
theo, ông bố chỉ gạt đi, nói:
- Ở nhà đi học!
Đi học!
Ô hô... học! Bụt cũng chẳng thể ngồi
học giữa nơi đầy tiếng bấc tiếng chì, giữa những tiếng chì chiết, miệng đay răng
nổi nghiến ấy, nói gì đến chuyện chữ nghĩa thi cử để mà đỗ đạt. Thế là, gã
khai tăng tuổi để đi Thanh niên xung phong, gánh đất đắp đường tàu... Đó là
quãng đời niên thiếu của gã. Còn thời thanh niên ư? Có mà khối chuyện để gã
viết lách dài dài...
Mặt rỗ nhằng rỗ nhịt, sẹo to đè sẹo nhỏ,
lỗ chỗ sẹo đen lỗ bi lỗ đáo - di chứng bệnh đậu mùa từ thời thực dân đế quốc
“vãi” đầy lên mặt gã. Nhìn đám trai trẻ khôi ngô tuấn tú, cười nói vô tư, yêu
đương cũng vô tư... Uynh tức lắm. Gã lầm bầm chửi đổng:
- Tổ cha chúng mày! Cậy có bộ mặt nhẵn
nhụi, trắng trẻo một tí là thằng nào thằng nấy nhắng nhít tít mù. Thấy gái là
như mèo thấy cá rán, buông đũa buông bát đã tót sang đơn vị nữ để tán tỉnh.
Miệng còn nồng nặc hơi sữa mà đã đòi xí xa xí xớn. Ông mà làm vua, ông thiến
bằng sạch, đem ninh cám vỗ béo cho đàn lợn tăng gia của đơn vị, chứ để chúng
mày cứ nhông nhông như chó dái, sớm muộn gì cũng sinh ra tội hủ hóa!
Không
làm được vua để “thiến” các chàng trai, nhưng Uynh cũng luồn lách ngoi lên được
chức B trưởng, cai quản gần bốn chục con người. Cổ Uynh lúc nào cũng đeo lủng lẳng
cái còi thiếc như một thứ bùa hộ mệnh tôn giáo. Dù là người miền Bắc, Uynh lại
luôn diện bộ bà ba đen, cổ quấn khăn rằn đặc trưng Nam Bộ buông dài hai đầu
khăn trước ngực. Chân hắn dận đôi dép lốp Bình Trị Thiên đế dày bốn năm phân
cho thêm phần “dã chiến”, cốt để ra vẻ ta đây từng là cán bộ thời kháng chiến
đánh Pháp đuổi Nhật. Cái vẻ ngoài ấy như một lời răn đe: “Tao từng giải phóng
cho dân nghèo, đánh đổ lũ địa chủ, tư sản chúng bay, làm cho lũ bay hết thời ăn
trên ngồi trốc. Chúng bay chớ có coi thường tao.
Là con nhà đạp xích lô, Uynh từng theo
nghề bố ở ngõ Lò Lợn, phố Bạch Mai. Năm 1955, Uynh mới đi công trường đường sắt
Hà Nội - Mục Nam Quan - con đường đầu tiên được khôi phục trên miền Bắc. Uynh
làm việc ở đó liên tục cho đến năm 1959 thì được điều sang phụ trách Thanh niên
xung phong đi mở đường mới.
Các cán bộ miền Nam tập kết ăn mặc thế
nào, Uynh bắt chước ăn mặc thế nấy. Uynh còn giả giọng miền Nam để lòe những
người không biết, cốt để tỏ ra ta đây cũng là cán bộ tập kết cho “cao giá”.
Đang ngủ ngon, bỗng cả lán giật mình
thức dậy vì tiếng còi của Uynh thổi: “Toe... toét, toe... toét, toe... toét
toét...”. Mở mắt ra, trời còn tối om. Xem đồng hồ thấy mới 5 giờ kém 15 phút, gã
bực mình bảo:
- B trưởng ơi, bốn mươi lăm phút nữa mới
tới giờ, sao B trưởng đã báo thức sớm thế?
Với giọng cuội cuội, tỉnh bơ, Uynh nói:
- Đồng hồ tớ đã 5 giờ 30 phút rồi. Đi
ngủ theo đồng hồ tớ, thì báo thức cứ theo đồng hồ tớ mà dậy!
Trưa, đã quá giờ nghỉ mười lăm phút mà
vẫn chưa thấy Uynh thổi còi. Gã nhắc:
- Mười một giờ rưỡi nghỉ, mà giờ đã mười
một giờ bốn lăm rồi B trưởng vẫn chưa cho anh em nghỉ. Các B khác họ nghỉ cả
rồi!
Vẫn giọng “cuồi cuội”, Uynh bảo:
- Lúc đi làm xem đồng hồ tớ, thì giờ
nghỉ cũng phải theo đồng hồ tớ!
Gã vặn lại:
- Đồng hồ của B trưởng hãng gì mà khi đi
làm thì chạy nhanh, lúc nghỉ lại chậm rề rề vậy?
Uynh tỉnh bơ:
- Đồng hồ Mát-xcơ-va!
Gã chê:
- Đồng hồ B trưởng loại vứt đi, hãng
không tên tuổi. Của tôi là đồng hồ Wyler Thụy Sĩ, tự động chạy bằng nhịp đập
trái tim, lúc nào cũng khớp với giờ nhà đài “tun tút”. Cái loại đồng hồ lên dây
cót hàng ngày của ông sao sánh bằng!
Bị gã chê bôi, Uynh trợn mắt, vừa lên lớp vừa
dọa:
- Này này, xem lại lập trường đi nhé! Hàng của
tư bản mà đòi tốt hơn hàng xã hội chủ nghĩa được à? Cẩn thận cái mồm, không tống
vào trại Lý Bá Sơ (14)bây giờ!
---------------------
(14): Trại
Lam Sơn T5 do Lý Bá Sơ, xây dựng năm 1947 tai Đầm Đùn TH, làm nơi cải tạo
tù hàng binh, thời kháng chiến chống Pháp.
Phần II
Cõi thiên đường
(9)
Giá mà người bố nuôi hôm chia tay ở sân bay Gia Lâm đừng cho chiếc đồng hồ;
cứ để gã mù tịt về giờ giấc, không biết chuyện B trưởng vặn lại kim giờ để bắt
bốn chục con người làm quá giờ không công, thì gã đâu bị B trưởng trù úm,
phân công đểu, bắt làm toàn việc nặng nhọc.
Nhiều lần như thế, nhiều ngày như thế, gã phẫn lộ bỏ công trường về thẳng.
Những chuyện “vân lim vân lát” ấy chảy từ ký ức lèn đầy các trang giấy. Gã gọi
đó là truyện ngắn, truyện vừa. Gọt đi dũa lại hai ba lần, khi thấy vừa ý, gã
chép lại sạch sẽ gửi đến tòa báo rồi xé bỏ bản thảo gốc, coi bản gửi đi là “tác
phẩm”. Gã kiên nhẫn chờ đợi, mua tất cả các số của tờ báo mà gã gửi bài
trong suốt ba tháng liền.
Không thấy tăm cá bóng chim, gã lại mua giấy ngồi viết truyện khác. Gã có
biết đâu, truyện nào gửi đến tòa soạn cũng đều rơi vào tay một ông đọc lai cảo
có thói sính “con ông cháu cha”. Với ông ta, nghề văn nghề báo cứ phải con dòng
cháu giống mới viết ra văn; cho dù bố viết hộ con, ông viết hộ cháu vẫn cứ hay
hơn văn của những kẻ ngoại đạo tự mình viết lấy!
Cầm tập bản thảo lên, việc đầu tiên là ông ta liếc nhìn tên tác giả rồi
hỏi một câu bâng quơ với những người trong phòng biên tập. Cả phòng khi ấy kẻ
thì ngáp dài, người thì ngủ gật, kẻ lại đang thả hồn vào một câu thơ bí vần:
- Vũ Tung là con cái nhà ai ấy nhỉ?
Sau cái ngáp dài “ới giời ơi”, một ông tỉnh cơn ngủ gật, mắt nhắm mắt mở
đáp lời:
- Chắc lại con nhà “cha căng chú kiết” chạy biệt vào rừng, chứ văn nghệ sĩ
ai lại đặt tên con nghe như tiếng quạ mổ vào mặt trống: đánh “tu... uung’ một
nhát khô khốc thế bao giờ!
Cả phòng được đà vỗ bàn cười ha hả. Rồi, họ quăng tót “tác phẩm tác
phẻo” của gã vào sọt rác dưới gầm bàn mà chẳng thèm liếc qua lấy một chữ.
Phần II
Cõi thiên đường (10)
Vừa đến cổng Thiên Đình, chúng tôi bắt gặp một người
đàn ông đầu đội thúng đơn kiện, đang xin vào gặp Ngọc Hoàng. Hai vị thiên binh
gác cổng lạnh lùng dùng cán giáo gạt ra, song người đó vẫn lao tới:
- Cho tôi gặp Trời! Cho tôi gặp ông Trời! Đừng ngăn
tôi, các người không được phép ngăn tôi!
Một thiên binh chĩa thẳng mũi giáo vào mặt ông ta,
quát tháo:
- Láo xược! Ngọc Hoàng còn đang bận phê duyệt sớ Táo
quân dâng lên từ hôm hăm ba tháng Chạp, đến nay vẫn chưa xong. Lui ra ngay!
Vẫn chiếc thúng đơn đội đầu, người đàn ông gào lên uất
ức:
- Không cho tôi vào thì mời ông Trời ra đây! Suốt ngày
đêm ngự nơi cung vàng điện ngọc, vùi đầu vào mớ báo cáo tô rồng vẽ phượng, liệu
Ngài có thấu hết sự đời, hiểu nổi lòng dân? Cái bánh Ngài ban phát vốn đủ đầy
hương vị: nào nhân đậu, vừng, lạc, lạp xường, nhân mứt quả... thế mà đi qua bao
nhiêu tầng nấc công quyền, lọt qua lớp lớp cửa ải, đến tay dân đen chỉ còn là
cái bánh tẻ nhân hành rẻ tiền nhất chốn chợ quê; thậm chí, chỉ là một chiếc
bánh vẽ! Ngài có thấu cho chăng, hả Trời? Cho tôi làm người mà chẳng cho lấy
một mảnh hạnh phúc vuông tròn, đày đọa tôi vào chốn lao tù đến ghê rợn suốt
một kiếp người. Bất công! Bất công thay! Trời mà bất công như thế, hỏi sinh
ra Trời để làm gì?
- Hỗn láo! Nhà ngươi dám phỉ báng cả ông trời, muốn
bị quăng vào vạc dầu chăng? - Một thiên binh quát lớn.
- Vạc dầu ư? Đến hỏa ngục tôi còn chẳng kinh sợ, đừng
có dọa! Về phần xác, tôi đã nát thịt tan xương, hóa vào cát bụi hơn ba năm nay
rồi. Cái phần hồn mỏng manh này giờ quăng vào đâu mà chẳng thế. Sợ đếch gì! Tôi
còn gì nữa đâu mà mất!
Khi thấy tôi sánh bước bên nàng tiên, mắt người đó
trợn tròn, mồm há hốc vì kinh ngạc. Ông ta lắp bắp gọi:
- Ơ... Phong!
Phong ơi! Đằng ấy làm gì mà lên được tận đây nhanh thế? Năm ngoái lúc bốc mộ
tớ, tớ về vẫn thấy đằng ấy đến thắp hương cho tớ cơ mà?
Gặp lại người hàng xóm trong hoàn cảnh tréo ngoe này,
tôi vô cùng bối rối, chỉ biết đứng im thin thít. May sao, Huệ kịp thời đỡ lời:
- Anh Phong vẫn là người trần, chỉ lên đây dạo chơi
vài ngày thôi. Còn ngươi, phận là linh hồn dưới âm phủ, sao lại lạc bước đến
chốn trang nghiêm này?
Người đó run rẩy đáp:
- Dạ... thưa tiên nữ, tôi trốn... tôi trốn trong hài
của một vị Táo Bà nên mới lên đây được sáu tháng rồi. Tôi lên để kiện ông Trời,
mà mãi chẳng được gặp ông. Tiên nữ làm phúc, xin giúp tôi với!
Huệ nhíu mày hỏi:
- Ngươi kiện Trời về việc gì?
- Kiện Trời ăn ở bất công!
- Cụ thể là sao?
- Ông Trời cho tôi làm người nhưng lại tước đi quyền
làm cha, bắt tôi chịu cảnh tù tội, rồi lại trêu ngươi khi để hai gã đàn ông
cùng chung chạ với một người đàn bà!
Huệ thở dài, buông một câu lạnh lẽo:
- Đợi ba tháng nữa, sau khi đọc xong báo cáo, Trời sẽ
có thời gian tiếp ngươi.
Dứt lời, Huệ kéo tay tôi bước thật nhanh qua cổng
Trời. Sau lưng chúng tôi, bóng dáng người hàng xóm cũ cùng thúng đơn kiện nhạt
nhòa dần trong mây xa mờ ảo. Đó chính là khởi đầu cho một “tấn trò đời” đáng phải kê.
Xin kể.
Phần I
Cõi thiên đường (11)
Trước cửa “công ty” sửa chữa ô tô Cát
Tận - thực chất chỉ là một tiệm sửa ô tô xập xệ - treo tấm bảng mica trắng ghi
mấy dòng bút dạ nguệch ngoạc: “Công
ty TNHH Cát Tận cần tuyển 10 thanh niên trẻ, khỏe đi rải tờ rơi, lương 50 nghìn
đồng/ngày”.
Chỉ vài giờ sau, đơn từ và sơ yếu lý
lịch đã gửi đến tới tấp, chất thành một chồng ngất ngưởng trên bàn “giám đốc”.
Tận ngồi lẩm nhẩm duyệt từng tờ cho ra vẻ ta là giám đốc, chứ thực ra cái
việc vặt vãnh ấy cần gì đơn từ cho rùm beng! Thuê người làm một ngày, ra chợ
lao động mặc cả vài câu là xong, nhưng Tận vốn ưa phô trương, cứ phải vẽ chuyện
cho thiên hạ lác mắt.
Đống đơn ấy đa phần là của những sinh
viên nghèo. Ở quê, bố mẹ chúng phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, chắt
bóp từng hạt thóc, chờ lứa lợn xuất chuồng hay đàn gà đủ cân bán đi mới có tiền
gửi cho con. Những chàng trai, cô gái trẻ phải lăn lộn đủ nghề, từ chạy xe
ôm, bưng bê, rửa bát đến tạp vụ... tóm lại là tất thảy những việc “thượng vàng
hạ cám” miễn có tiền đóng học và tiền ăn hàng ngày.
Trong đống đơn ấy, Tận gạn đục khơi trong,
tuyển được mười nam thanh nữ tú. Gã bảo phó giám đốc - cũng chính là vợ gã -
lập danh sách niêm yết lên bảng tin, trịnh trọng báo cho người được tuyển đến
nhận “công tác”.
Điểm danh đủ mặt mười người, Tận dẫn họ
vào văn phòng, chỉ vào mười xấp giấy in offset còn thơm mùi mực:
- Các bạn mang tờ rơi này tỏa đi khắp
phố phường, phát cho bằng hết rồi về đây nhận 50 nghìn tiền công ngọn cái
xoẹt! Nhớ kỹ: Một, nhét vào cổng các khu biệt thự. Hai, kẹp vào kính xe ô tô
đỗ ven đường. Ba, vào bãi giữ xe, mỗi giỏ xe máy một tờ. Bốn, đứng tại các ngã
tư chờ đèn đỏ mà phân phát. Xong sớm nghỉ sớm, mời các bạn lên đường!
Sau khi mười chàng trai, cô gái khệ nệ
ôm xấp giấy đi khuất, Tận quay lại phòng giám đốc, ngả người xuống ghế sa lông.
Gã rút điếu thuốc 555, quẹt lửa rít một hơi thật dài, phả khói mờ mịt. Qua làn
khói thuốc, Tận thấy cả một đoàn xe hỏng đang nối đuôi nhau chờ vào công ty
Cát Tận sửa chữa. Nghĩ đến đó, gã sướng rơn cả người.
Trí tưởng tượng đang hồi cao trào thì tiếng chuông điện thoại chợt vang lên: Reng...
reng...
Tận đắc ý nghĩ thầm: “Chắc lại anh nào vừa nhận được tờ rơi đây!”
Gã oai vệ đứng dậy, chộp lấy máy, giọng hách dịch:
- Hế lô ô ô…!
Tiếng người ở đầu máy bên kia dội lại:
- Cho tôi gặp Giám đốc Công ty TNHH Sửa chữa Ô tô Cát Tận!
- Tôi, Giám đốc đây - Tận ưỡn ngực.
Đầu dây bên kia gầm lên:
- Mày là thằng chó đểu! Đồ khốn nạn!
Phần II
Cõi thiên đường
(12)
Có lẽ từ
khi loài người phát minh ra điện thoại, chưa ai đủ kiên nhẫn cầm máy nghe chửi
đến câu thứ hai. Tận dập máy đánh “cạch” một cái cực nhanh. Kẻ vừa gọi điện cho
Tận có lẽ thuộc loại dân “mới phất” nhờ trúng mánh, hoặc hạng quan chức ăn tham
vừa “thuổng” được món tiền của nhà nước giàu bật lên. Hắn vừa tậu chiếc ô tô,
đang chạy rốt-đa (rodage) cho thuần máy, nhân tiện chở vợ con diễu phố để khoe
xe cho thiên hạ lác mắt.
Tính cách người mình cũng lạ: vừa xây được
cái nhà đã mời nhau tân gia, tậu được chiếc xe lại réo nhau đi khao. Thứ văn
hóa ăn khao - dân gian gọi lóng là “rửa nhà”, “rửa xe” - đang hồi sinh một cách
tràn lan, len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống hiện tại. Nó cứ tưng bừng, hợm
hĩnh, chẳng khác gì thói hào nhoáng của đám chức dịch sau lũy tre làng thời
phong kiến đang trỗi dậy trong một lớp vỏ mới.
Trong khi chờ vợ con vào công viên, gã đứng
ngoài tự “canh gác” lấy xe. Xe mới không người trông nom, lỡ mấy đứa vô ý đi
ngang quệt xước sơn thì xót đứt ruột. Lại còn lũ đạo chích nữa chứ! Cái giống
kẻ cắp xứ này cũng “khố đỉn” lắm cơ. “Đánh” cả con xe thì không dám vì sợ tù tội,
chúng chỉ chuyên trò vặt vãnh, “đánh nhanh rút gọn” ba đồ lặt vặt cho an
toàn. Cứ gương chiếu hậu, đèn pha, đèn hậu... chúng vặt trụi rồi tống ra Chợ Giời bán
lấy tiền tươi thóc thật mà ăn nhậu. Gặp ca nào ngon ăn, cạy được cửa xe mà khoắng
được cái cặp ca táp bên trong thì coi như trúng quả đậm. Vì thế, hở ra một
chút là mất gương, mất đèn như bỡn, lúc ấy chỉ có nước ra Chợ Giời “chuộc” lại
đồ của mình.
Đứng một mình cũng buồn, thấy một bóng
hồng váy ngắn điệu nghệ lướt xe @ đi tới, gã bỗng nổi máu sĩ, muốn khoe con xe
mới mua. Nhưng ngặt nỗi chẳng biết khoe cách nào cho ra vẻ ta đây sở hữu cả
con ô tô mới coong để át vía cái @ của nàng, gã liền buông lời trêu ghẹo bằng
một câu thơ chế: “Váy em ngắn quá lộ đùi ra”. Đáp lại gã chỉ là sự “không
thèm chấp”, thế mới chán!
Đang bị cụt hứng thì gã thấy xấp tờ
rơi cài trên gạt nước, liền rút ra xem. Nguyên văn: “Cát Tận - Công ty sửa chữa
ô tô xin kính chào quý khách. Quý khách đã có xe thì cứ yên tâm mà chạy thả
phanh, khỏi lo nghĩ gì cho mệt đầu! Dù xe bạn có đấu đầu, tạt sườn, hôn gốc
cây, hay lỡ sa xuống vực; dù máy hỏng, mui thủng, gầm long, kính vỡ, lốp mòn...
thì xin mời đến số 39000 phố Lưa Văn Đao. Với đội ngũ thợ lành nghề, kinh
nghiệm lâu năm, chúng tôi cam kết: Xe Nhật lại mới như xe Nhật, xe Mỹ lại bóng
như xe Mỹ, xe Đức lại chất như xe Đức, đến cả xe Nga cũng sẽ mới y xì đúng một
trăm phần trăm xe Nga!
Dưới những
dòng quảng cáo “nổ” vang trời là hình ảnh chiếc xe bẹp rúm đặt cạnh một con xe
đã đại tu bóng lộn, như thể công ty Cát Tận có phép mông má thần kỳ. Lại thêm cả
ảnh giám đốc Cát Tận diện com-lê, thắt cà vạt đạo mạo đứng giữa dàn thợ mà nhìn
mặt anh nào anh nấy chưa quá tuổi 25. Đúng là chuyện “bố tướng” thời đại quảng
cáo! Bây giờ người ta tán bùi tai đến nỗi con cáo trong hang cũng phải mò ra, để
các đại gia băm chặt!
Phần II
Cõi thiên đường
(13)
Với cái đầu “ẩm ướt”, mê tín dị đoan đến thái quá, gã coi việc ra ngõ gặp
gái là điềm gở, là hãm tài, hỏng việc. Vừa liếc thấy tờ quảng cáo toàn nói về
tai nạn xe cộ, gã rùng mình sợ hãi cái thứ mà người đời cho là “độc mồm độc miệng” (ý tờ quảng cáo)
đó. Gã văng tục:
- Mẹ kiếp! Con
xe mới coong của bố vừa mua, chạy chưa đầy nghìn cây số, đứa chó nào đem giắt
mấy tờ giấy khốn nạn, ám quẻ thối tha này vào chứ?
Gã nhổ phì phì bảy bãi nước bọt ra bảy phía chung quanh xe, quẹt bật lửa đốt
cháy mấy tờ quảng cáo, hơ đi hơ lại vòng quanh xe để đốt vía, giải xúi. Rồi gã
rút điện thoại di động, bấm theo số máy trong tờ quảng cáo gọi đến công ty Cát
Tận để chửi. Chửi chưa hết lời, đầu dây bên kia đã cúp máy mất.
Xưa Tận từng là “cán bộ” nhà nước,
“cán bộ” bảo vệ, nhưng lại thông đồng với “cán bộ” lái xe và “cán bộ” thủ kho để
lấy cắp sợi của xí nghiệp. Sợi chở về, lái xe và thủ kho chỉ nhập kho hai phần,
còn một phần ba họ để lại trên xe. Qua cổng, Tận đã “bảo vệ” cho lái xe đem
số hàng ăn cắp ra an toàn, đem đi bán cho con phe lấy
tiền chia nhau. Ăn ngon với nhau vài chuyến trót lọt, đến chuyến thứ tư thì bị
công an kinh tế tóm gọn ngay tại nơi tiêu thụ. Thế là cả ba ông “cán bộ” dắt
tay nhau vào trại giam, mỗi ông ngồi bóc
giúp nhân dân anh hùng năm bảy quyển lịch bloc. Vợ Tận là Thị
Mơ ở nhà lâm vào cảnh túng thiếu, đành tính chuyện cặp bồ với anh trưởng cửa
hàng lương thực để “vay” gạo về ăn và tiếp tế cho chồng.
Chuyện nơi cửa hàng lương
thực.
Thấy thủ trưởng xuất gạo của kho
cho tình nhân “vay” được, các nhân viên khác cũng “học tập” gương thủ trưởng...
Vô tư đi! Gạo nhà nước kho đầy kho vơi, tội gì không lấy về mà ăn, cho người
nhà “vay” về ăn cho sướng miệng. Thủ trưởng cho vay, thủ phó cho vay, nhân
viên cho vay; “vay” đến nỗi cửa hàng hết nhẵn gạo bán cho người dân.
Thời ấy - thời bao cấp, mỗi nhà được phát một quyển sổ
mua lương thực. Quy định mua ở đâu thì cứ nơi đó mà mua, sang cửa hàng khác chỉ
có nước vác rá về không. Cửa hàng gạo của tình nhân Thị Mơ tháng này qua tháng
khác cứ gối đầu nợ gạo nhân dân. Dân vác sổ ra mua là phải đứng đọc tấm
biển: “Gạo chưa về”. Vậy mà đơn vị ấy vẫn sơ kết hoàn thành kế hoạch sáu tháng
đầu năm, trống rung cờ mở, khẩu hiệu căng đỏ từ trong chí ngoài: “Cửa hàng ta
hoàn thành vượt mức kế hoạch toàn năm...”. Bình bầu toàn là gương tiên tiến
với suất sắc, chiến sĩ thi đua đủ cả. Chỉ thiếu nước ghi thêm thành tích
cho “vay” không đòi được nữa là đủ một bộ thành tích đơn vị dẫn đầu toàn ngành.
Thưởng phạt phân minh, phê bình rút kinh nghiệm từ cán bộ đến nhân viên đầy đủ
lắm, mà chẳng hiểu gạo nó bay lên trời hay độn thổ đi đâu mà hao hụt lắm thế?
Cấp trên về thanh tra vã mồ hôi hột, cộng sổ nhập, trừ sổ xuất hàng tháng trời
mới ngã ngửa người ra: Cả một tập thể đã đồng lòng cho “vay” sạch cả kho gạo!
Giữa lúc hậu phương miền Bắc đang
dốc sức người sức của chi viện cho tiền tuyến đánh Mỹ, “thóc không thiếu một
cân, quân không thiếu một người”, vậy mà họ nỡ làm ăn ba rọi ba láp như thế!
Cái thói đục khoét ấy, có đem ra xử bắn, nhân dân anh hùng cũng chưa hả dạ.
Phần II
Cõi thiên đường (14)
Trước khi “nhập tịch” trại cải tạo, gã cửa hàng trưởng kịp để lại cho Thị
Mơ một “cục cưng” tròn xoe trong bụng. Giá không vướng cái cục cưng ấy, Thị
còn có cơ cặp kè với gã cửa hàng trưởng lương thực khác để “vay”gạo tiếp
được. Khốn nỗi, nhân tình thế thái lại cứ rặt một màu... thế thái chẳng chút
nhân tình! Đời nào những gã “sôi máu sơn dương” đực thèm ngó ngàng tới một con
mẹ bụng mang dạ chửa phềnh phệnh.
Hết đường kiếm ăn. Cái bụng mỗi ngày một to vượt mặt, tiền hết, gạo không.
Chồng đi tù, tình nhân cũng tù ở, chẳng còn người đem gạo kho đổ vào hòm
cho Thị “vay” nữa. Chán mớ đời chưa!
Đôi tình nhân ấy, kẻ thụt két gạo kho, người
chén no gạo “vay”, tích trữ đủ thứ chất bổ âm bổ dương rồi “tình tình tinh” với
nhau để cho ra đời một thằng cu khá kháu khỉnh đến lạ. Nhưng đến khi thằng bé
chào đời thì nhà cũng chẳng còn lấy một hạt gạo. Xung quanh, hàng xóm láng giềng
lại phải “lá lành đùm lá rách”. Cả khối phố vận động nhau: người bơ gạo, kẻ nắm
mì, người mớ rau, quả trứng. Thời ấy, thời của tem phiếu phân phôi nên nhà nào
nhà nấy kinh tế cũng chỉ sàn sàn như nhau. Ai khéo dè sẻn thì dư ra chút đỉnh;
nên lòng tốt chỉ cân đong bằng bơ gạo, nắm mì vây thôi.
Trong lúc túng quẫn, thị buộc phải bán đi căn nhà mặt phố, chuyển ra khu vực
giáp ranh ngoại thành sinh sống. Thị tính ra hai lợi ích: một là, tránh được
điều tiếng chửa hoang; hai là, có khoản tiền dư để trang trải cuộc sống, nuôi
con và chờ đợi người tình mãn hạn tù trở về, hy vọng anh ta làm cửa hàng trưởng
tiếp tục để giúp Mơ “vay” gạo dài dài.
Bóc vừa hết bốn quyển lịch của trại giam, Tận được tha về. Vừa bước chân
vào cửa, Tận ngớ người thấy thằng cu con chừng ba tuổi đang bi bô gọi mẹ. Tận
quắc mắt hỏi vợ:
- Thằng bé này ở đâu ra?
Thị
Mơ ngọt xớt:
- Em xin trên cây đa Nhà Bò! (nhà hộ
sinh cây đa Nhà Bò, quận Hai Bà Trưng Hà Nội).
Cả Tận và hàng xóm nơi ở mới đều tin
sái cổ việc “Em xin ở cây đa Nhà Bò” được thằng cu con kháu khỉnh quá... bố nó
thích chưa?
Chẳng hiểu “giống má” nhà
Tận kém cỏi, trục trặc “kỹ thuật” ở khâu nào, hay kiếp trước Tận xử ác
với trẻ con nên kiếp này trời cấm cửa, không cho các chàng Sơn Tinh, Thủy Tinh hay
các nàng Mỵ Nương, Ngọc Hoa công chúa đầu thai vào nhà Tận?
Cũng may Thị Mơ “xin” được trên Cây đa Nhà Bò được
thằng cu con như mơ ước, không thì... dòng họ nhà Tận cũng tuyệt giống.
Ði tù về Tận định xin đi làm “cán bộ” bảo vệ tiếp, nhưng sao được.
Bị một cái, ông nhà nước đã sợ tái đến già, sao còn dám gửi trứng
cho ác một lần nữa.
Một bạn tù từng là
thợ sửa chữa ôtô cũng mắc tội thó vật tư quý hiếm của nhà máy “cung ứng” cho chợ
giời bị bắt, bị ra toà đi bóc lịch cùng trại với Tận. Tù về, cũng thất nghiệp
đang lêu têu, thấy Tận có nhà mặt đường bèn hùn vốn mở tổ dịch vụ bơm vá xăm lốp
ôtô chung.
Lốp xăm gì mà lại cứ
phải chạy đến đúng tổ dịch vụ của Tận mới xì hơi để cho hai người bơm vá liên tục?
Phần II
Cõi thiên đường
(15)
Hóa ra, anh cả “thó” đã thông đồng mật
thiết với anh tiêu thụ, cùng nhau “rút ruột” kho Nhà nước để cùng nhau làm
giàu bất chính. Từ một tổ bơm vá săm lốp ô tô thuần túy đã biến tướng thành
“trạm trung chuyển” - chuyên tráo lốp cũ lấy lốp mới để cánh tài xế ăn chênh
lệch, được khối tiền bỏ túi riêng.
Sau khi tráo đổi xong xuôi, nhét nắm tiền vào túi, anh tài xế nào cũng thốt
ra một câu cửa miệng giống hệt nhau:
- “Có tổ dịch vụ của các “đồng chí” tiện lợi cho cánh tớ quá cơ! Cảm ơn các “đồng
chi” nhé!'
Đúng là: “Đồng chí “gí”
đồng bào, đẻ ra tiền bạc thằng nào chẳng mê”!
Với người này thì: “Bác thừa can xăng
hử? Để đấy em tiêu thụ hộ”. Với kẻ khác: Chú “xin” được cái bánh xe cũ của
cơ quan hả? Để anh đưa ra hàng dép lốp cho họ “làm thịt” giúp. Hay thậm chí:
Anh “thừa” cái kích chứ gì? Có người đang cần, nhờ chúng em tìm mấy tháng
nay...”
Cứ ngọt xớt dưới cái mác “hộ” với
“giúp” như thế, mà bao nhiêu phụ tùng xe máy, ô tô các loại - từ mới đến cũ -
cứ thế từ kho Nhà nước “tập kết” ra tổ dịch vụ Cát Tận, để rồi từ đó tuồn
thẳng ra Chợ Giời, bày la liệt thành những dãy dài mải miết!...
Đất nước vừa trải qua chiến tranh, còn đang oằn mình trong khó khăn. Vậy mà hạng người
ích kỷ này lúc nào cũng sẵn như ruồi nhặng. Vì chúng mà đất nước
đã nghèo lại nghèo thêm.
Chuyện về Tận lẽ ra có thể khép lại tại đây. Nhưng đời vốn dĩ trớ trêu, ta
muốn một đằng nhưng con tạo lại xoay vần một nẻo, cứ như thể nó bày ra những cuộc vui; hay đúng hơn là để
đày đọa thêm kiếp người vốn đã đa truân.
Cầm tờ quyết định mãn hạn tù, Vi trở về
trong thân phận kẻ thân bại danh liệt. Đứng trước ngôi nhà cũ nay đã thuộc về
người khác, gã bàng hoàng nhận ra mình đã mất tất cả.
Ngày Vi tra tay vào còng, vợ gã lẳng
lặng đem hai đứa con gửi trả lại cho bố mẹ chồng ở quê. Ả bán đi ngôi nhà, ôm
toàn bộ tiền bạc rồi trốn chạy theo nhân tình. Đau đớn thay, kẻ đó không ai
khác chính là Luân - người bạn thân “nếm mật nằm gai” từ thời ở chiến khu với
Vi. Khi Vi đi tù, Luân nhân danh tình bạn để đến thăm nom, chăm sóc vợ con gã.
“Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, cả hai rơi vào lưới tình mê muội. Một kẻ bỏ
mặc chồng tù tội, một kẻ rũ bỏ người vợ hiền cùng con đứa con tật nguyền để dắt
díu nhau đi tìm hạnh phúc bất chính ở phương trời khác.
Nỗi đau chưa dừng lại ở đó. Ở quê nhà, hai đứa con thơ cùng cha mẹ già của
Vi đã vĩnh viễn nằm lại dưới hố bom sau một trận oanh kích lạc mục tiêu của máy
bay Mỹ. Ngôi nhà ngói năm gian - biểu tượng hãnh diện một thời được xây bằng
tiền Vi gửi về lúc còn làm cửa hàng trưởng lương thực - giờ chỉ còn là đống đổ
nát hoang tàn.
“Đồng tiền không đổ mồ hôi thì chẳng bền lâu được!” - lời bàn tán cay
nghiệt của người làng như nhát dao cứa thêm vào vết thương lòng của kẻ trắng
tay. Trở về với đôi bàn tay không, chẳng còn nhà cửa, cũng chẳng còn vợ con, Vi
bàng hoàng nhận ra những gã bạn hữu từng “chén chú chén anh” ngày nào giờ bỗng
hóa người dưng. Thấy Vi đến, họ đón tiếp bằng thái độ nhạt nhẽo, mời chén trà
sái cặn lấy lệ rồi khéo léo... tiễn khách!
Vi đau - nỗi đau xé lòng trước sự đen bạc của nhân tâm. Vi nghiến răng tự
nhủ: “Ta nhất định phải làm lại từ đầu để trả cái hận này”!
Nghĩ là
thế, nhưng giữa thời buổi dùng người các cơ quan xí nghiệp đều thẩm tra kỹ lưỡng
đến tận “chân tơ kẽ tóc”, thì với bản lý lịch tham ô, lại có tiền án đi tù về,
còn khướt mới được làm cán bộ trở lại để mà trả “mối hận”. Sẵn trí khôn di truyền
từ bác nông dân dùng mưu “trói hổ” trong chuyện cổ tích, Vi quyết định ở lại
quê, dựng tạm căn nhà trên mảnh đất cũ của cha mẹ ngày xưa để ở, rồi mới tính tiếp.
Sống ở quê một thời gian, cái đầu nhạy bén của một cựu cửa
hàng trưởng giúp Vi nhận ra cơ hội mưu sinh: Vi mở dịch vụ xay xát gạo bằng máy
chạy dầu diesel, giải phóng cho việc tay kéo giàng xay,
chân giậm cối
giã nặng nề của người làng...
Tiền làm dịch vụ cộng với nguồn thu từ chăn nuôi gà, lợn
giúp Vi có bát ăn bát để chỉ sau vài năm sau đó. Thế nhưng, cuộc sống sung
túc ở quê không cầm chân được Vi. Với Vi, “giàu nhà quê không bằng kéo lê
thành thị”. Cái mùi vị phù hoa, quyền thế thời còn làm “sếp” cửa hàng lương
thực đã ngấm sâu vào tim gan tì vị, khiến lòng Vi lúc nào cũng cồn cào khó
dứt.
Phần II
Cõi thiên đường
(16)
Sống độc thân, nhấm nháp nỗi cô đơn đang
ngấm dần tận xương tủy, cùng nỗi hận đời mà người vợ bạc tình đã gieo rắc. Có
lẽ cuộc đời này có vay có trả thật. Nếu ngày ấy Vi cứ yên phận làm anh cửa hàng
trưởng lương thực liêm khiết, liệu đời có đẩy đưa đến nông nỗi này? Một gã đàn
ông đang độ sung sức mà phải chịu cảnh cô đơn giam hãm thì thật phi lí.
Khổ nỗi, ở quê, dù tiền túi có rủng rỉnh
cũng chẳng dám ăn tiêu vung vít như chốn đô thị. Muốn ăn chơi, bồ bịch cũng
phải nhìn trước ngó sau. Đến như cái chuyện giỗ chạp, Tết nhất mới dám vặt lông
con gà để “trước cúng sau ăn”. Chứ khơi khơi mà đem gà ra cắt tiết, hàng xóm
trông thấy là điều nọ tiếng kia ầm làng ngay. Cái thói đời tọc mạch ấy, nghĩ
đến thôi đã thấy rác tai không chịu nổi.
Vi quyết định giải tán sạch sành sanh từ
đàn gà đến chuồng lợn, rồi bàn giao lại toàn bộ nhà cửa, máy móc cho một người
bà con trông nom kinh doanh thay. Vi xách chiếc ba lô, lộn ngược trở lại thành
phố để “khai phá” cuộc đời thêm lần nữa xem sao. Những ngày tháng chôn chân ở
quê đã khiến Vi chán ngấy đến tận mang tai rồi.
Thế nhưng, cuộc ra đi
lần này không còn là cảnh trắng tay của anh nông dân đi kháng chiến năm nào.
Trong túi Vi giờ đây đã có một số vốn kha khá - thành quả của những năm tháng
tằn tiện, tích cóp từ quê.
Ðang lang thang trên phố để tìm nơi ở thì bất ngờ Vi gặp lại Thị
Mơ, người tình vay gạo năm xưa. Họ rủ nhau vào quán càfê để tâm sự. Rồi từ hôm ấy
hai người lại xoắn xuýt lấy nhau không rời tại các nhà nghỉ, khách sạn. Thị Mơ
về nhà bàn với chồng, rằng thị có người anh họ ở quê muốn xin việc làm, đằng
nào tới đây nhà mình cũng thuê một bảo vệ để bảo vệ nhà, xưởng, cửa hàng; đi
thuê người ngoài cũng vậy, thì thuê người nhà mình còn hơn. Thấy Thị Mơ phân
tích nghe có lí, Tận tán đồng quan điểm của Thị ngay. Từ đó Vi giữ chân “bảo
vệ”” cho công ty trách nhiệm hữu hạn Cát Tận đến khi Tận dính “Chưởng” móc ngoặc
số lượng lớn xăm lốp và phụ tùng xe ôtô từ kho nhà nước tuôn ra, bị ra toà, cả
một đường dây móc ngoặc theo nhau vào tù. Tận bị bệnh đau ruột thừa cấp tính chết
trong trại giam. Ở nhà, Vi nghiễm nhiên lên làm ông chủ cả đống của cải và người
đàn bà trong mộng. Cũng vì thế mới có việc đi kiện trời của Tận mà tôi và Huệ gặp
trước cổng trời đã kể ở trên.
Phần II
Cõi thiên đường
(17)
Tôi đang lơ ngơ ngắm nhìn từng đoàn
khách nhà Trời dập dìu qua cổng: người thong dong trên xe mây, kẻ cưỡi rồng,
cưỡi hạc; có người lại cưỡi cá chép, cưỡi kỳ lân... Cảnh tượng rực rỡ ấy đang
cuốn lấy tâm trí tôi thì bỗng một tiên nữ dắt tay một người đàn ông hiện ra
ngay trước mặt. Nàng cất lời chào thân tình như thể đã quen biết chúng tôi từ
lâu:
-
Em chào anh, em chào chị!
Không chỉ lời chào mà ngay cả diện mạo
người đàn ông đi cùng nàng cũng gợi lên trong tôi một cảm giác quen quen. Giữa
lúc tôi còn đang lục tìm trong trí nhớ, Huệ đã lên tiếng:
- Anh Phong không nhớ cô em này sao? Hôm
trước em ấy đã đến bãi cây xấu hổ - nơi những hài nhi hành hạ các ông bố tội
lỗi mà anh đến xem đấy. Em ấy mượn xe để đi chơi cùng anh Minh mà.
Thấy tôi vẫn còn ngơ ngác, Huệ giải
thích thêm:
- Anh còn được nghe chú bé thiên thần
đọc bài thơ “Tiền Tiền” nữa, anh nhớ ra chưa?
Đúng lúc ấy, tôi và người đàn ông kia
cùng nhận ra nhau. Hai tiếng reo đồng thanh vang lên.
Tôi thì:
- Minh à!
Người kia cũng:
- Phong à!
Gương mặt Huệ rạng rỡ hẳn lên. Nàng vui
vẻ nói:
- Hóa ra chị em em lại có duyên với hai
anh đấy nhỉ!
Rồi Huệ giới thiệu:
- Đây là Nhàn, em gái em.
Tôi cũng tiếp lời:
- Còn đây là Minh, bạn với anh hồi nhỏ.
Huệ khẽ thở dài, giọng trầm xuống:
- Em Nhàn cũng từng xuống trần một thời gian, nhưng lại vướng vào mớ bòng
bong khổ ải chốn nhân gian anh ạ.
Tôi tò mò hỏi:
- Nhàn cũng là lính sao? Cô ấy ở đơn
vị nào vậy?
Huệ lắc đầu:
- Không đâu anh! Trước khi đợi dự tiệc, chúng ta hãy xem chuyện về Nhàn và anh Minh nhé.
Nói đoạn, Huệ lấy chiếc Gương Quá Khứ Hiện Về ra. Trên
mặt gương huyền ảo dần hiện lên dòng chữ:
Phần II
Cõi thiên đường
(18)
KẺ CƠ HỘI HẾT CƠ HỘI
Trời còn nhọ nhem chưa
tỏ mặt rừng, lũ chim liếu điếu đã kéo đến cây sấu đầu lán cãi nhau inh ỏi khiến
Minh tỉnh giấc. Nằm nguyên trong màn khởi động chân tay, chiếc phản ghép bằng
ván mỏng kêu cọt
kẹt theo từng nhịp cử động. Đang đà hứng khởi, Minh buột mồm
hô to:
- Một hai một, một hai một! Dậy đi anh em ơi!
Có tiếng ai đó giong ngái ngủ cự nự cuối lán.
Tiến nằm phản bên choảng liền một câu:
- Câm mõm đi! Chủ nhật được nghỉ để anh em ngủ
thêm tí chứ. Người gì mà vừa mở mắt đã mở mồm, quang quác như quạ khoang
đánh hơi thấy xác trâu bò thối trôi sông ấy!
Bị cụt hứng, Minh tung màn nhảy đại ra sân tập thể dục một mình.
Màn sương trắng là là bồng bềnh, phủ kín
những ngọn núi và cánh rừng trước mặt. Hà Nội nằm sau những đồi cà phê, đồi chè
mới trồng kia, nhưng phải đi ô tô, tàu hỏa từ sáng sớm đến tối mịt mới về tới
nơi. Ước gì có đôi hài nghìn dặm để Chủ nhật về ăn cùng mẹ bữa cơm, tối lại lên
kịp sáng thứ Hai đi làm thì vui biết mấy.
Vừa tập thể dục vừa nghĩ vẩn vơ, lòng
Minh rộn lên nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ da diết. Tức khí, Minh “quăng” nỗi buồn lên
núi, nhảy đại vào lán giật màn của Tiến, kéo chân Dũng, co tay Hoài, bắt cả ba
dậy ra suối đánh răng cùng. Nghỉ Chủ nhật giữa rừng sâu hoang vắng chẳng biết
chơi gì, sau sáu ngày làm việc vất vả, cứ rỗi rãi là lại sinh thèm ăn.
Họ bèn rủ nhau đi tìm anh Hồ Nâu, kéo
anh ra phía suối nơi vực nước sâu hườm vào lèn đá. Sau khi biếu anh mấy bao
thuốc lá Đồ Sơn, Minh vẽ xuống mặt cát mịn một vòng tròn. Nhìn cái vòng Minh vẽ,
anh lắc đầu, giơ ngón trỏ vẽ vào không khí ý bảo phải thu nhỏ lại. Minh hiểu ý,
xoa tay xóa hình cũ, vẽ một vòng tròn mới nhỏ hơn.
Anh Hồ
Nâu vẫn lắc đầu:
- Dưới nớ hổng có con mô to rứa!
Minh vẽ lại một vòng tròn nhỏ hơn nữa.
Lần này anh Nâu mới gật đầu, rồi cởi áo, nhảy ào xuống suối, lặn biến vào dòng
nước trong xanh, làm tóe những vòng sóng đuổi nhau chạy dài rồi tan dần vào hai
bờ cát. Bốn “con sâu gắp” đứng trên bờ hau háu chờ đợi.
Lát sau, mặt suối sủi tăm, đầu anh lao vọt
lên. Một tay vuốt nước trên mặt, tay kia anh giơ cao một con ba ba. Hai ngón
tay cái và trỏ móc chặt vào hốc chân sau của nó. Hai chân trước con vật đạp lấy
đạp để, cái cổ thò ra hết cỡ, ngoặt lên lưng chới với muốn tìm đường thoát
thân. Nhưng với người dày dạn kinh nghiệm như anh, mọi sự vùng vẫy của nó đều
vô ích.
Anh thong thả bơi vào bờ. Đem con ba ba đặt
xuống, ướm vừa khít cái vòng Minh vẽ trên cát. Anh ngước nhìn mọi người với một
nụ cười rất tươi. Xin cam đoan chưa bức tranh hay trang văn nào tả được nụ cười
vô tư ấy của Hồ Nâu. Hai hàm răng trắng muốt bừng sáng, tràn đầy năng lượng như
vầng dương tỏa nắng ban mai khiến tinh thần
chúng tôi vô cùng phấn chấn. Tính một con
không đủ cho bốn người lai rai. Bốn đứa bàn nhau về căng tin mua thêm thuốc
lá để nhờ anh bắt thêm con nữa.
Anh Hồ Nâu là một người nghiện thuốc lá
nặng. Trừ lúc làm việc hay khi ngủ, còn lại, điếu thuốc lúc nào cũng ngật
ngưỡng trên môi. Khói tỏa nghi ngút, hết vờn quanh mặt lại bảng lảng trên đỉnh
đầu; nhìn vào anh, người ta có cảm giác anh luôn mang theo một vầng mây mờ ảo
bên mình.
Anh vốn là người Thượng, tập kết ra Bắc
sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Những ngày đầu, anh được cử về Trường Bổ túc
Công nông Trung ương tại Giáp Bát để học văn hóa. Suốt ba năm vật lộn với chữ
nghĩa, Toán, Văn… anh cũng chỉ lấy được tấm bằng lớp 7 theo diện “đỗ vớt” nhờ
chính sách ưu tiên dành cho cán bộ người Tây Nguyên. Trong khi đồng đội cùng
kháng chiến đều đã tốt nghiệp cấp ba, người vào đại học, người sang Liên Xô hay
Trung Quốc tu nghiệp, thì không rõ do tắc trách ở khâu nào, anh lại bị điều về
Tập đoàn Sản xuất M N - nơi tập trung những người lý lịch có “vấn đề”. Họ vốn
là thành phần tề, điệp từng làm việc cho chính quyền Pháp ở miền Trung và Nam
Bộ, bị buộc đi tập kết để giữ bí mật, tránh làm lộ các lực lượng nằm vùng của
ta trong đó. Giữa những con người “không rõ nhân thân” ấy, một cán bộ kháng
chiến thực thụ như anh bỗng chốc rơi vào tình cảnh trớ trêu như vậy.
Tàu Ba Lan chở lực lượng tập kết ra miền
Bắc đổ bộ lên bãi biển Sầm Sơn. Sau đó, các cán bộ dân chính Đảng được phân
công về cơ quan, địa phương theo đúng chức vụ, thì số còn lại - vốn là thành
phần tề, điệp bị cưỡng ép tập kết - phải nằm chờ chủ trương từ cấp trên. Do các
điểm tiếp nhận quá tải, Ban đón tập kết lập danh sách đưa họ về các tỉnh kết
nghĩa Bắc - Nam để anh em đùm bọc lẫn nhau. Oái oăm thay, nơi tiếp nhận do
không nắm rõ nguồn gốc nên cứ ngỡ tất thảy họ đều là người kháng chiến thực
thụ.
Vốn là những tay sai hạng bét trong bộ
máy hành chính cấp xã thời 1946 - 1954, đám người này “học không hay, cày sợ
bùn lấm”, cả nửa đời chỉ quen nghề do thám, chỉ điểm để kiếm chút “bơ thừa sữa
cặn”. Tuy sức dài vai rộng nhưng nghề ngỗng chẳng biết gì, thật khó để xếp họ
vào việc gì cho phù hợp giữa lúc miền Bắc đang bộn bề trăm công nghìn việc. Bởi
thiếu thông tin, người ta mặc nhiên coi họ là người yêu nước; thế là họ được đà
tự khai những bản lý lịch “bịa” với đủ thứ công lao mùi mẫn như những câu vọng
cổ họ thường ngâm nga lúc nhớ nhà. Kẻ xưng giữ chức này, người nhận làm tước
nọ, rất oai hùng lắm!
Tỉnh lưu họ lại nhà khách để an dưỡng và
bồi dưỡng thêm chính trị, củng cố tinh thần cách mạng; nhưng thói buông thả và
lưu manh lính tẩy đã trỗi dậy ngay tức khắc. Họ rượu chè lướt khướt, ê a ba
câu bài chòi, cải lương rẻ tiền để tán gái, tranh giành yêu đương với đám thanh
niên địa phương, gây náo loạn cả một thị xã vốn dĩ yên bình bên dòng sông hiền
hòa trước đây.
Cuối cùng, tỉnh đành cấp kinh phí lập
lán trại dưới Bãi Lai để họ khai hoang, trồng trọt, lập nên Tập đoàn Sản xuất
MN. Hai năm đầu được bao cấp từ A đến Z, nhưng sang năm thứ ba khi phải tự lực
cánh sinh thì nảy sinh vấn đề: làm được một cân sản phẩm, họ lại đòi ba lần
quyền lợi. Hết chịu nổi, tỉnh đành nhập tập đoàn đó vào Nông trường Sông Thu.
Một nông trường đang làm ăn có lãi, khi tiếp nhận hơn ba trăm con người này
bỗng lỗ vốn liền tay. Lương tháng vẫn lĩnh đều nhưng sản xuất chẳng ra sản
phẩm; họ “trồng mía hóa lau, trồng củ tía ra củ nâu”. Để khắc phục hậu quả,
tỉnh và nông trường đành chia nhỏ lực lượng này, phân đều về mỗi đội sản xuất
vài chục “vị”.
Anh Hồ Nâu là một cán bộ kháng chiến
thực thụ, thương tích đầy mình, thành tích cũng đỏ ngực. Vốn yêu cuộc sống
hoang dã, anh dựng một cái nhà sàn nho nhỏ cạnh khu tập thể. Muốn ăn cá, đêm
đêm anh lại xuống suối rọi đèn pin chém cá; thích thịt chim thì vác nỏ vào
rừng; muốn ăn thịt chồn, thịt cáo thì đặt bẫy. Vậy mà lạ thay, món ba ba nấu
chuối xanh, đậu phụ, thịt ba chỉ cùng đủ thứ gia vị ngon là vậy anh lại chẳng
bao giờ đụng đũa. Anh bảo:
- Tau ăn con ni là chạy nhà cầu không
kịp!
Những chàng trai, cô gái Hà Nội tình
nguyện lên xây dựng kinh tế miền núi đều đang ở độ tuổi mười tám, đôi mươi
phơi phới. Họ mang theo bầu máu nóng đến nơi gian khó để cống hiến, sống hồn
nhiên và làm việc vô tư: từ khai hoang, đào hố, gánh phân đến trồng cà phê,
chè, sắn... Việc gì cũng xông pha theo tiếng kẻng làm bằng vỏ bom lép vang vọng
khắp núi rừng mỗi ngày.
“Keng... keng... keng!”, ba tiếng mở đầu
ngày mới, trai gái từ các lán trại vùng dậy tập thể dục. Lại ba tiếng kẻng gọi
đi ăn sáng với bát ngô mảnh nửa hấp nửa bung, nhai sái quai hàm mới nuốt nổi.
Một hồi chín tiếng là lúc cả đội vác dao, vác cuốc ra lô, ra rẫy làm việc; và
chín tiếng tiếp theo báo hiệu giờ nghỉ trưa. Năm tiếng, mọi người vác bát đũa
xuống nhà ăn. Sáu người chung một chậu cơm, đã độn ngô mảnh còn “cõng” thêm sắn
tươi thái lát; thức ăn thì trưa đu đủ xào, chiều “cà lào” luộc (tiếng Sán Chỉ
gọi đu đủ là cà lào). Sinh hoạt kham khổ là thế, vậy mà họ vẫn làm việc say
sưa. Tháng có bốn ngày Chủ nhật thì chỉ được nghỉ hai, còn lại là lao động
XHCN hoặc làm để ủng hộ phong trào này, phong trào nọ... Có đến 101 lý do để
lao động ngày Chủ nhật, nhưng tất cả họ vẫn vô tư, chẳng chút từ nản.
Phần II
Cõi thiên đường
(19)
Từ quê hương “Chị
hai Năm tấn” Thái Bình, cử một đoàn nam nữ thanh niên lên
nông trường. Họ là cháu chắt của những lão nông ngày xưa từng theo cụ Nguyễn Công Trứ lấn, mở đất ra
biển, nay lại tiếp bước tiền nhân để mở đất trên rừng. Trong số đó có Nhàn.
Ngay buổi họp mặt, Minh đã thấy lòng xốn
xang khi vừa chạm mắt Nhàn. Trong mắt anh, Nhàn là một cô gái tuyệt đẹp: đôi
mày cong thanh tú, đôi mắt huyền lóng lánh trên khuôn mặt trái xoan đầy đặn và
đôi gò má hây hây hồng. Bình thường khuôn miệng Nhàn nhỏ nhắn, nhưng khi cười
lại mở rộng vẻ quý phái, làm hiện lên hai núm đồng tiền tròn xoe duyên dáng.
Phàm là con gái, chỉ cần một nét duyên đã đủ làm đắm thuyền tình bao
chàng trai rồi. Nhàn lại có gấp đôi
nét duyên nét đẹp như thế thì đến cha ông trời nhìn thấy cũng nuốt nước miếng
mà thèm nữa là những chàng trai bằng xương bằng thịt do cha mẹ sinh ra, ông
trời phú cho thói đa tình. Minh quay sang ba người bạn là Tiến, Dũng, Hoài,
tuyên bố xanh rờn:
- Bằng mọi giá, tớ phải “cưa” em này!
Ba người bạn chụm đầu thì thầm, rồi một anh nhăn nhở cười, đáp lại:
- Mày coi ba đứa tao là gỗ mục cả sao? Em ấy cũng lọt mắt tụi tao rồi “hen”!
(Tiếng “hen”, do họ nhại các anh Nam Bộ cùng tổ cho vui).
- Thế thì lần lượt đọ găng! - Minh thách thức.
- Xong béng! Chủ nhật này nghỉ, ra bãi cát ngoài suối chung ta phân tài cao
thấp.
Dọa nhau cho ra vẻ vậy thôi, chứ thực
tình họ chẳng iêng hùng như
những chàng công tử Châu Âu thế kỷ 18, 19, đâu mà chạm tự ái là đòi quyết đấu
sinh tử. Nhàn được biên chế về cùng tổ sản xuất với Minh, do anh Hồ Nâu làm tổ trưởng. Ngay hôm
sau, anh Hồ Nâu đã tinh ý phân việc cho Minh đi làm cùng Nhàn.
Nhàn có giọng hát chèo rất ngọt. Trong
đêm liên hoan văn nghệ chào mừng ngày lễ kỷ niệm, Nhàn lên sân khấu diễn trích
đoạn Thị Mầu lên chùa. Tay phải em cầm chiếc quạt giấy rung rung
theo nhịp, đôi chân nhon nhón lướt đi, tay trái mềm mại vẫy quạt như làn sóng
nhấp nhô, như cánh chim chao lượn. Sau vài lượt múa làm duyên, em cất tiếng
hát: “Người đâu đến ở chùa
này, cổ kiêu ba ngấn...”. Làm cả hội trường im phăng phắc, mọi ánh
mắt đều bị tiếng hát của em thu phục. Là người thành phố, từng xem đủ loại
hình sân khấu, nhưng Minh vẫn hoàn toàn bị giọng hát của Nhàn hút hồn.
Thế rồi, ngày ba lượt nghe kẻng cơm, cả
hai đều cầm bát có ý chờ nhau để ngồi chung mâm. Đi làm, họ lại được anh Hồ Nâu
tạo điều kiện cho làm cùng nhau. Nhưng mối quan hệ ấy vẫn chỉ dừng lại ở ranh
giới tình bạn, chưa dám “vượt biên cương”. Có lẽ tình yêu luôn cần một bước đệm
từ tình bạn. Thế nhưng, tình bạn của họ không qua nổi cặp mắt trắng dã
của Đội trưởng Nguyễn Em.
Nguyễn Em vốn là thành viên của tập đoàn
sản xuất Bãi Lai. Sau khi tập đoàn giải thể, hắn được phân về đội. Nhờ may mắn,
hắn gặp được Đội trưởng Chương - một cán bộ tập kết đồng hương đứng ra bảo lãnh,
Em có ngay bản lý lịch đẹp mĩ mãn: Từ năm... đến năm... đi tập kết, được
cài vào chính quyền ngụy làm nội gián. Với sự làm chứng của hai người đồng
hương khác, đời Em chính thức “thăng hoa” từ đấy. Hắn được đi học bổ túc văn
hóa hết lớp 7, rồi học sơ cấp lâm nghiệp, về đội làm kỹ thuật và được kết
nạp Đảng.
Khi các cán bộ miền Nam lần lượt lên
đường về quê chiến đấu, Nguyễn Em nhanh chóng “tót” lên ghế Đội trưởng. Cái đầu
“ngu lâu” của Minh không nhận ra “chân lý” sống gì cả: Phàm cái gì lãnh đạo
đã để mắt tới thì chớ có động vào; ngoan cố ắt sẽ ăn đòn đau.
Chẳng bao lâu sau khi nhậm chức, Nguyễn
Em điều ngay Nhàn lên văn phòng đội làm kế toán phụ. Còn Minh, hắn “nện” cho
một đòn bút chí mạng: cả cái tên lẫn cái thân xác ấy bị bật bãi vào tận trại
chăn nuôi trong rừng sâu hút.
“Vào đó mà yêu lấy đàn lợn, đàn bò cho
chừa cái bản tính tiểu tư sản lãng mạn, yêu đương nhăng nhít! Thứ tình cảm
thiếu lành mạnh ấy dễ dẫn đến hủ hóa, ảnh hưởng đến danh dự tập thể như chơi!”. Lời răn đe ấy Em đã thuyết giảng nhiều lần trong các buổi sinh hoạt
chính trị, vậy mà cái đầu “đặc bí ngô” của Minh chẳng chịu sáng ra. Cho thế
mới đáng đời!
Phần II
Cõi thiên đường
(20)
Trại chăn nuôi là một tổ sản xuất độc
lập, với gần năm trăm đầu lợn, mấy chục con bò với hai mươi “thợ” chăn nuôi.
Công việc xoay quanh việc trồng ngô, sắn, khoai lang, rau xanh, nấu cám và chăn
thả đàn gia súc. Vì nhân lực ít nên không khí họp hành cũng thoáng hơn.
Tối thứ Bảy nào Minh cũng băng năm, sáu
cây số đường rừng về trung tâm đội để thăm Nhàn. Vài tuần đầu, hai người còn
gặp nhau trò chuyện, nhưng sau đó công việc văn phòng của Nhàn cứ dày đặc thêm
lên: “Làm ngày không đủ, em phải tranh thủ làm đêm!”. Có hôm chờ đến chín rưỡi
vẫn chưa thấy Nhàn về lán, tiếng kẻng gọi công nhân đi ngủ đã dõng dạc vang lên
“keng keng” chín tiếng to kèm một tiếng nhỏ. Minh buồn bã ra về giữa tiếng
hoẵng oang oác ném vào đêm trăng suông, nghe chưng hửng đến buồn tái tê.
Sáng Chủ nhật, Nhàn vẫn bận rộn. Minh
lên văn phòng ngó vào cửa sổ, Nhàn nhìn thấy, vừa chạy ra thì Đội trưởng Em
đã gọi giật giọng:
- Nhàn ơi, tổng hợp ngay số liệu tổ chăn nuôi tháng này cho ảnh, mai ảnh báo
cáo Giám đốc!
Nhàn vội vã quay vào, bỏ mặc Minh đứng
trơ lại. Đợi mãi không được, Minh liều mình vào văn phòng mượn xếp báo các
loại ngồi đọc để có cớ chờ đợi. Nhưng Nhàn không thể ra. Ở phòng trong, thi
thoảng lại vang lên tiếng cười đùa ré lên như trêu ngươi. Cảm thấy sượng sùng,
Minh lặng lẽ rút lui, rủ ba người bạn đi tìm anh Nâu bắt ba ba về nấu nướng, bù
khú cho qua ngày Chủ nhật nhạt nhẽo.
Về lán, khi bình tĩnh suy nghĩ lại, Minh
tự thấy mình hơi vô duyên. Mình đã ngỏ lời đâu, mà chắc gì người ta đã yêu
mình? Yêu đơn phương mà cũng tương tư sầu muộn, vô lý đùng đùng! Máu sĩ diện
nổi lên, Minh quyết định dẹp bỏ sự thổn thức của con tim. Vốn tính “ruột để
ngoài da”, chỉ vài ngày sau anh đã quên khuấy mọi chuyện, có bao nhiêu tiền đều
dồn cả vào mua sách báo về đọc để khỏa lấp nỗi buồn.
Thời gian bẵng đi vài tháng. Một tối nọ,
khi về đội họp tổng kết sáu tháng đầu năm, chị Bắc - người cùng tổ sản xuất cũ
- kéo Minh lại nói nhỏ:
- Minh này, hình như con Nhàn có chửa? Tao thấy bụng nó căng, lưng ngay ngay,
không còn thắt đáy lưng ong nữa. Mạch cổ dật dật, lông mày dựng ngược, người
lại gầy và xanh xao lắm. Chị bảo thật, chúng mày trót “ăn cơm trước kẻng” thì
báo cáo Công đoàn rồi cưới nhau đi, không là mày chết đấy!
Minh ớ người, đứng đực ra, lòng dạ hoang mang nhộn nhạo. Mãi mới lấy lại
bình tĩnh, anh đáp:
- Chị thấy đấy, từ ngày em sang tổ chăn nuôi có còn thân thiết gì với Nhàn đâu.
Cô ấy có chửa là với ai chứ không phải em!
- Đừng chối! Người ta bảo chính con Nhàn khai là chửa với cậu đấy!
Minh chết điếng, không kìm nổi giận dữ:
- Để em cho ả “Thị Màu” ấy vài cái tát, dám vu oan giá họa!
Lúc này trong mắt Minh, Nhàn bỗng hiện lên khác hẳn: đỏng đảnh, trơ trẽn như
chính vai diễn Thị Mầu mà Nhàn từng đóng. Chị Bắc vội kéo lại:
- Vớ vẩn! Chị bảo mà lo liệu đi, còn lắm chuyện!
Minh vùng vẫy khỏi tay chị Bắc, chạy một
mạch lên khu tập thể tìm Nhàn. Nhưng thấy mọi người đang bắt đầu mắc màn, anh
vội quay ra vì không thể vào lán phụ nữ giờ họ ngủ.
Vài ngày sau, khi Minh chưa kịp tìm Nhàn để “cho vài cái tát” thì ông Chính
- Thư ký Công đoàn - cho người đến báo Minh về văn phòng đội họp gấp. Mặc
nguyên bộ đồ bảo hộ còn ám mùi cám lợn, Minh nửa đi nửa chạy tới. Trong văn
phòng đã ngồi đủ “bộ tam” đoàn thể: Thư ký Công đoàn, Bí thư Chi đoàn Thanh
niên và Trưởng ban Nữ công. Nhàn cũng ở đó. Vừa thấy Minh, cô vội lấy hai tay
ôm mặt, gục xuống bàn. Nhìn cô gầy sọp, xanh xao, Minh đứng đầu bàn hỏi ông
Chính bằng giọng khiêu khích:
- Ông cho gọi tôi có việc gì sai bảo đấy?
Bà Trưởng ban Nữ công giọng thân mật trả lời:
- Đồng chí Minh à, mọi sự Nhàn đã nhận cả rồi. Giờ lãnh đạo cần tinh thần tự
giác của đồng chí. Giấy bút đây, đồng chí làm bản kiểm điểm rồi tổ chức sẽ lo
liệu đám cưới cho hai đồng chí!
Phần II
Cõi thiên đường
(21)
Nghe vậy, Minh giận sôi người. Thế nhưng nhìn Nhàn lúc này tàn tạ và suy
sụp quá, Minh cố nén cơn giận lại. Nặng lời lúc này liệu có ích gì? Vả lại,
nếu định đổ tội cho anh, thái độ của Nhàn phải khác. Chắc chắn có sự sắp đặt
nào đó ở đây.
Bỗng Nhàn ngẩng đầu lên, nghẹn ngào:
- Xin các người hãy để anh ấy yên! Đứa con trong bụng là của tôi, anh Minh
không liên can gì cả. Tôi đã nói đi nói lại bao nhiêu lần rồi, sao mọi người cứ
muốn áp đặt mãi vậy?
Rồi Nhàn gục xuống bàn thổn thức. Cái
thai trong bụng Nhàn chưa ai nhận là tác giả; người ấy là ai chỉ mình Nhàn
biết, mà Nhàn đã giữ bí mật thì trời cũng chịu. Các anh các chị hồi ở cùng tổ
sản xuất cũ hễ gặp Minh là trêu: “Người ta đúc cốt hộ rồi, mình cứ việc tráng
men, nhàn nhã quá còn gì. Nhận đi, cá vào ao ta ta được, tội gì”. Biết đùa
không đúng với bản chất sự việc nhưng mọi người vẫn cứ trêu Minh như thế.
Không thể quàng vào cổ Minh tội “hủ hóa”
để giải quyết hậu quả thay, họ quay sang khắc phục kiểu khác. Anh Hồ Nâu bỗng
dưng đứng ra nhận. Anh nói anh dùng bùa ngải mê hoặc để hủ hóa với Nhàn, anh
xin chịu trách nhiệm nuôi đứa bé cho đến khi nó trưởng thành. Anh tự làm kiểm
điểm và xin nhận kỷ luật về
Đảng. Để giữ danh dự nội bộ, họ “đạo diễn” vụ này thật khéo. Nhàn tìm gặp anh
Hồ Nâu để phản đối, anh bảo:
- Em chấp nhận phương án này đi, ai trói em vô tau đâu mà sợ. Tau làm cha đỡ đầu cho con em. Tau sắp về Nam chiến đấu, mà chiến đấu thì biết sống chết
khi nào. Sau này con em hỏi ba đâu, thì em bảo cho nó hay là: “Thống nhất
đất nước ba sẽ về”. Chúng ta phải có niềm hy vọng dành cho con trẻ chứ, em!
Không ngờ vai diễn Thị Màu lại vận vào
đời Nhàn ác nghiệt vậy! Vài tháng sau Nhàn sinh con trai, đứa bé còi cọc nhăn
nhúm. “Bé bằng cái tẹo, chưa đầy hai ký” - chị y tá đỡ đẻ đã nói vui như thế
khi đặt đứa bé lên cân. Cũng do người mẹ khi mang thai kém bồi dưỡng, lại thêm
những dằn vặt về tinh thần nên hậu quả đứa trẻ phải gánh chịu. Thôi thì có đầu có đuôi, nuôi
lâu cũng lớn. Nhờ những quả trứng gà
anh Hồ Nâu tăng gia được, những con chim rẽ đồng anh bẫy ngoài ruộng lúa và một
tập thể bạn bè người cân đường, người hộp sữa dành cho mẹ con Nhàn mà đứa bé
dần cứng cáp.
Anh Nâu vào rừng tước mây, chặt song đem
về hì hục vót vót, chẻ chẻ, phơi sấy rồi cặm cụi đan cái nôi hình bầu dục treo
lắc lư trên những vòng song uốn lượn hoa văn cầu kỳ. Cái nôi còn có cả bốn bánh
gỗ đẩy đi kéo lại kêu cút kít mừng khi thằng cu đầy tháng.
Tính tò mò làm mấy trăm con người hồi
hộp mong thằng cu lớn nhanh để xem nó giống ai: giống Minh hay giống Nguyễn Em?
Minh có thời thân với Nhàn, đưa nhau vào bản này bản nọ mua mít, mua mận, đi
chơi thị xã, đèo nhau qua bao quãng đường vắng... “Mỡ để miệng mèo, mèo Xiêm Hà
Nội chúa lãng mạn, si tình, con gái hơ hớ ra thế có mà nó chê! Bố nó cũng khó
mà chê nữa là nó!” - họ dị nghị đàm tiếu về Minh như vậy. Còn Nguyễn Em, từ khi
đưa Nhàn lên văn phòng đội làm kế toán, luôn “đi sâu đi sát vào tận... quần
chúng” để tìm “cái mênh mông”! Vì Nhàn đang là đối tượng cảm tình Đảng loại
một, Nguyễn Em đang bồi dưỡng để kết nạp, mà ở trong Nam Em lại đang có vợ con.
Vả lại luật hôn nhân quy định một vợ một chồng, chuyện hủ hóa thời ấy là tội
nặng, rất nặng. Nhưng trong nội bộ người ta bưng bít cho nhau thì “hòa cả
làng”, chỉ Nhàn là thiết thân thôi.
Hết chế độ nghỉ đẻ, Nhàn gửi con vào nhà
trẻ để đi làm. Lúc đó, tính tò mò của mọi người tha hồ “thả phanh” săm soi.
Người thuận đường đi qua nhà trẻ rẽ vào xem thằng cu lớn chừng nào đã đành; có
người còn chấp nhận đi vòng, lội suối, leo dốc bở hơi tai chỉ để xem bằng mặt,
sờ tận tay thằng bé. Một điều làm mọi người bán tín bán nghi là cái tên Hồ Minh Anh mà Nhàn đặt cho con.
Họ Hồ là do anh Hồ Nâu tự nguyện tặng; còn chữ đệm “Minh” thì Minh có cho mượn
đâu? Cái tên “Anh” thì chẳng ai suy ra ngụ ý là gì.
Người nọ hỏi người kia, sự tò mò lây
sang cả Minh. Sau vài lần vắt tay lên trán suy đông nghĩ đoài, Minh mới tìm ra:
chữ “Anh” đi liền với chữ “Em” - “Anh em như thể tay chân”. Khi tìm ra ngụ ý
tên Anh mà Nhàn đặt cho con, Minh “sang tai” ngay cho mấy bà chuyên “buôn dưa
lê” để trút nỗi bực mình:
- Thằng con là... ANH thằng bố! Cái Nhàn thế mà ghê thật!
Vài người có tính hài hước gặp Minh vẫn đùa dai:
- Cậu em chết chửa? “Ấy” con người ta chửa rồi chạy làng, bị nó lấy tên đặt cho
con, khi nào tức nó cứ réo: “Tiên sư bố thằng Minh... Anh” ra mà chửi... ha ha!
Rồi họ ôm nhau cười rũ rượi ngay nơi làm
việc. Họ đùa “văn nghệ” với nhau cho quên mệt nhọc mệt lúc lao động vất vả,
còn Minh chỉ biết gượng ngùng cười theo, nhưng trong lòng thì bực bội vô cùng!
Phần II
Cõi thiên đường
(22)
Cu Minh Anh càng lớn càng hiện rõ những
đường nét trên khuôn mặt Đội trưởng Nguyễn Em: tóc cứng rễ tre, mắt trắng dã,
lông mày sâu róm xếch ngược hình lưỡi mác. Cái mũi khoằm khoằm mỏ diều hâu chõ
xuống nhìn đôi môi dày, làm cho khuôn miệng rộng vếch ra hai khóe mép, đè bẹp
cả cái cằm lẹm.
Một ngày đầu tháng Tư năm 1966, anh Nâu
gánh trên vai hàng chục con ba ba buộc túm vào nhau. Loại to có thể ăn
ngay, loại giâu giẫu (nhỏ)
thì phải nuôi thêm. Chân con nọ trói vào chân con kia, xâu trên hai đầu đoạn
tre tươi, anh lặc lè đến tìm Minh rồi bảo:
- Dưới nớ con mô bọn
bay nấu được là tau bắt
cả về đây rồi, đào hố thả nuôi cho lớn mà nấu dần. Tuần sau tau về Nam đánh Mỹ, bọn bay có
muốn ăn cũng không bắt nổi mô!
Minh đem thả đám ba ba vào bể chứa nước
phòng hỏa rồi lấy xe đạp chở anh đi chơi. Hai người gò lưng đạp xe leo ba bốn
cái dốc, gần một giờ đồng hồ mới tới thị xã. Minh định tìm đến một quán ăn,
nhưng anh Nâu bảo:
- Đưa tau đến quỹ
tiết kiệm.
Minh gạt đi:
- Đánh chén cái đã anh!
Anh Nâu khăng khăng:
- Để tau khao. Cuộc
chia tay ni là
của tau, tau được quyền khao.
Minh bùi ngùi:
- Ai khao mà chẳng thế. Tiền đối với anh em mình là cái quái gì lúc sắp chia ly
này, anh!
Hai người nhậu lai rai đến giờ làm việc chiều, Minh mới hỏi:
- Anh rút tiền tiết kiệm à?
- Mô, tau gửi!
- Anh gửi? Vào Nam chiến đấu anh còn gửi tiết kiệm ngoài này làm gì? Có bao
nhiêu tiền để em mua vàng cho anh mang theo cho gọn.
- Tau gửi cho cu Hồ
Minh Anh!
Chuyến đi về Nam năm đó có cả Đội
trưởng Nguyễn Em. Đến tháng Tám cùng năm, Minh cũng lên đường nhập ngũ...
Phần II
Cõi thiên đường
(23)
Hơn hai năm sau, giữa một cánh rừng Trường Sơn mênh mông, loa tâm lý chiến
từ máy bay của quân đội VNCH vọng xuống tiếng một kẻ chiêu hồi:
- “Hỡi
anh em binh sĩ Bắc Việt! Tôi là Nguyễn Em, cán bộ từ thời kháng chiến chống
Pháp đi tập kết. Khi ở miền Bắc, tôi từng làm Giám đốc nông trường Sông Thu
nhiều năm. Tôi trở vào miền Nam năm 1966... Chỉ khi về đây, tôi mới nhận ra
chính nghĩa quốc gia...”
Chính
hắn! Người Minh nóng ran, lồng ngực như muốn nổ tung. Không kìm nổi cơn giận
dữ, anh chộp lấy khẩu AK, lao thẳng lên đỉnh núi, giương súng chờ đợi. Khi
chiếc máy bay gắn loa tâm lý chiến vừa vòng lại, Minh nhằm thẳng hướng âm thanh
phát ra mà siết cò.
Trong
cơn phẫn nộ, Minh tưởng tượng rõ mồn một cả băng đạn đang găm thẳng vào cái mồm
rộng vếch ra hai khóe mép của kẻ phản bội mạt hạng.
***
Đất nước thống nhất, Nam Bắc thông
thương. Mười năm sau, trong một lần vào đồng bằng Nam Bộ công tác, đang chờ qua
phà Hậu Giang, Minh thấy một người mặc bộ quần áo bộ đội trông quen quen. Một
tay người đó chống nạng, một tay chìa nắp cặp lồng nhôm lên cửa sổ các ô tô khách chờ phà xin tiền.
Minh lại gần, nhận ra đó chính là Nguyễn
Em. Anh mở ví lấy một tờ tiền lẻ bỏ vào nắp cặp lồng cho hắn. Em ngước mắt lên
nhìn Minh, nói:
- Cảm ơn!
Nhưng khi nhận ra Minh, mặt hắn tái
ngắt, ngoắt người bỏ đi. Minh nắm cái nạng giữ hắn lại, nói nhỏ:
- Ông mặc bộ đồ quân nhân này đi làm
nghề gì cũng được. Nếu cuộc sống bức bách quá phải làm nghề này, yêu cầu ông
mặc bộ đồ khác cho.
Em “dạ” dài một tiếng, đồng thời bỏ cái
nắp cặp lồng vào chiếc túi mìn cờ lay mo (Claymore) khoác trên vai rồi loách choách chống nạng đi ngược
về cuối bến phà.
Huệ tắt gương quá khứ hiện về, quay sang
tôi, nói:
- Sau khi em xuống trần gian một ít ngày thì Nhàn, em gái em, cũng xuống
một gia đình ở tỉnh TB.
Phần II
Cõi thiên đường (24)
Khách khứa lục tục kéo đến dự tiệc, toàn
là các vị quan mũ cao áo dài: từ thiên binh thiên tướng, mười một vị Tào phán
quan, mười hai vị Hành khiển cho đến các Thiên Lôi, chư vị thánh thần, Nam Tào,
Bắc Đẩu, rồi cả các tiên bà, tiên cô... Vị nào cũng tay xách nách mang, kẻ gói
người hộp phẩm vật làm
quà. Ai không đem hiện vật thì cũng thủ sẵn trong túi chiếc phong bì.
Nghĩ lại tôi, Huệ, Nhàn và Minh, cả bốn
đều đi “mồm không”. Đi ăn tiệc mà đi mồm không cứ thấy áy náy, vô duyên sao
ấy; chẳng đúng “mốt” mà cũng chẳng hợp “lệ làng” thời hiện đại chút nào, thật
sự rất ái ngại. Tôi ghé tai, khẽ hỏi Huệ:
- Em có mang tiền không?
Huệ hỏi lại tôi:
- Anh cần tiền làm gì?
- Bỏ phong bì làm quà tặng.
- Vẽ chuyện! Việc gì phải sĩ diện với
đám quan giời ơi đất hỡi, hợm của hợm tiền, hợm chức hợm quyền này chứ!
Là tiên nữ trên trời, nhưng Huệ từng là
con nhà lính nơi trần gian nên tính Huệ thẳng băng như sợi dây bật mực tàu lên
khúc gỗ để xẻ cho thẳng ván quan tài. Hễ thấy điều trái tai gai mắt, Huệ đả cho
tới kịch số cùng. Những vị quan
trời thanh liêm thì quý, nể phục tính cách ấy của Huệ; còn kẻ gian manh thì e
dè khi giáp mặt cô.
Huệ nắm tay tôi, Nhàn cầm tay Minh bước
vào hội trường giữa những ánh mắt và nụ cười đầy thiện cảm. Những cánh tay ở
các bàn phía xa giơ cao vẫy chào Huệ; Huệ và Nhàn liên tục chắp tay đáp lễ
người phía trước, kẻ đằng sau. Tuy nhiên, cũng có cả những ánh mắt nhìn soi mói
vào tôi và Minh. Nhận ra điều ấy, hai chúng tôi giữ vẻ dửng dưng, lạnh lùng.
Bữa tiệc hôm ấy, Huệ là người nổi bật nhất, thu hút mọi
sự chú ý. Bộ quân phục cô mặc trông vừa khỏe khoắn, thon gọn, vừa tươi tắn như
một nữ binh văn công vừa bước ra từ cõi thực.
Huệ hào hứng giới thiệu tôi và Minh với
nhiều người quen. Có điều lạ, mỗi người Huệ lại giới thiệu tôi ở một vị trí:
lúc là bạn chiến đấu hồi Huệ bị đày xuống trần gian, lúc là anh trai, lúc là
bạn học, có khi lại là người yêu sắp cưới... Sự cảm tình của Huệ với người đối
diện đến đâu, cô đặt tôi “ngồi” vào vị trí đó. Với vị này thì chân tình, sang
người khác lại bỡn cợt như chế giễu, biến tôi thành trò hề lúc sắm vai nọ, khi
đóng vai kia đến chóng mặt.
Hình như nhiều người đến dự tiệc chỉ vì
tò mò. Họ đến để xem gã trọc phú khoe khoang sự giàu sang, chứ chẳng mấy ai mặn
mà ăn uống; cỗ bàn, bia rượu thừa mứa bỏ lại đầy bàn. Một lão Tào Thần tép riu, kẻ theo hầu
quan Hành khiển, chỉ nhờ lợi dụng quyền thế để đầu cơ đất đai nơi trần gian mà
giàu lên đôi chút, đã vội vênh vang, hợm của, khoe khoang ầm trời.
Huệ giới thiệu tôi với Thánh Mẫu, còn
Nhàn giới thiệu Minh. Thánh Mẫu là một người đàn bà rất đẹp, hay đúng hơn là
một bậc cao nhân đẹp lão với vẻ ngoài đoan trang, phúc hậu. Tôi đoán bà chỉ tầm
trên dưới năm mươi, nhưng Huệ bảo bà là người không có tuổi; bà sinh cùng trời
đất, thọ cùng nhật nguyệt. Với người Việt, bà chính là mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng;
cũng giống như Nữ Oa đội
đá vá trời trong thần thoại Tàu, hay Eva cùng Ađam ăn trái cấm của người phương Tây. Suy cho
cùng, bà chính là biểu tượng cao quý cho Người Mẹ của nhân loại.
Bà nghiêm nghị đến khó tính, nhưng luôn
có tình thương bao la với mọi sinh linh của cả ba cõi: Âm, Trần và Tiên. Bà
chẳng bao giờ ghét bỏ ai. Ai làm điều tốt bà động viên khích lệ, ai cố tình làm
điều xấu bà mắng mỏ, đày ải, nhưng hễ biết hối cải thì bà lại thương yêu rất
công bằng. Đó là bản chất vốn có của những người mẹ Việt Nam đoan trang nhân
hậu. Tuy bà nghiêm nghị là thế, nhưng vẫn có những đứa con lạc loài, bạc ác
được sinh ra - đó là sự ngoài ý muốn của Thánh Mẫu.
Lúc đầu, thái độ Thánh Mẫu lạnh lùng,
không mấy quan tâm đến tôi và Minh. Bà cho Huệ ngồi cạnh bên phải, Nhàn bên
trái, còn tôi và Minh bà khinh khỉnh để đứng trơ thổ địa ra khiến chúng tôi rất
bực mình. Thấy Minh ngoắt người định bỏ đi, tôi vội giữ lại. Lúc ấy tôi cũng tự
ái lắm, nhưng vì tò mò muốn xem rõ “đầu cua tai nheo” bữa tiệc nhà trời ra sao
nên cố chịu đựng, đứng đực ra như kẻ thừa thãi giữa đám quan trời rỗi việc bày
đặt tiệc tùng. Nếu không phải bà là Thánh Mẫu, tôi đã cùng Minh bỏ đi tức thì.
Lúc sau, Thánh Mẫu quay sang nói với chúng tôi, giọng đầy phẫn nộ:
- Các ngươi là quân người trần mắt thịt tham lam dơ dáy, thấy gái như mèo
thấy mỡ! Hai đức con gái của ta ở dưới đó hai mươi năm, các ngươi đày ải
chúng nó suýt nữa thân tàn ma dại. May các con ta không sao, chứ nếu có chuyện
gì, ta sẽ làm mưa gió bão giông tiêu diệt hết cái giống người tham lam ích kỷ,
lúc nào cũng chỉ thích gây binh đao chém giết. Ta không hiểu nổi đầu óc giống
người trần các ngươi ra sao nữa? Hơi tí là đánh nhau. Tranh nhau thẻo bờ ruộng
là kéo cả nhà, cả họ ra chửi nhau lộn tùng phèo. Ta ghét các ngươi! Ta ghét
lòng dạ hẹp hòi, đố kỵ của các người!
Phần II
Cõi thiên đường
(25)
Vô cớ bị Thánh Mẫu trút giận, tôi bực
lắm, định “đấu” lại bà một trận. Còn đang suy nghĩ tìm từ thích hợp để nói thì
may sao, một vị Biểu tào vận bộ đồng phục gấm màu vàng tơ, hoa văn dệt nổi hai
chữ Phúc - Lộc ngoặc vào nhau trên nền vải, tay cầm chai rượu Tây tiến đến. Ông
ta bật nút, rót ra chén mời Thánh Mẫu chén đầu tiên để bà khai tiệc; chén thứ
hai cho Huệ, chén thứ ba cho Nhàn. Bà cầm chén rượu giơ cao chúc tụng, mọi
người cũng đồng loạt giơ chén đáp lễ. Bà nhấp một ngụm rồi lạnh lùng đưa chén
rượu (đã uống dở) cho tôi.
Vì không hiểu tập tục nhà trời, tôi cứ
cầm chén đứng như trời trồng giữa hội trường đông đủ quan lớn quan nhỏ, những
kẻ ăn mặc lòe loẹt như đám hề tuồng nhí nhố khoe xiêm y đủ sắc màu. Bấm nhẹ vào
người tôi, Huệ bảo:
- Mẹ cho, sao anh không tạ ơn rồi uống
đi?
Chúng tôi nghèo thì nghèo thật, phó
thường dân thì phó thường dân thật, nhưng chén rượu thừa, miếng cơm thừa dù là
của “Giời” đi chăng nữa, có chết đói cũng không thèm. Đặt trả ly rượu xuống bàn
ngay trước mặt Thánh Mẫu, tôi hung hăng kéo áo Minh định rời khỏi bàn tiệc.
Bất ngờ, Thánh Mẫu nắm tay tôi, tay Minh
níu lại, bảo tôi ngồi xuống cạnh Huệ, Minh ngồi cạnh Nhàn. Rồi bà nói với Huệ:
- Hai thằng này làm mẹ thích! Bảo Phán quan
Biểu tào đưa chai rượu mới ra đây để mẹ tiếp hai đứa - mau!
Bà quay sang nhìn tôi:
- Làm người phải biết kiêu hãnh mới đáng
làm người. Làm người mà nhỏ nhen tư túi, tham ăn tục uống, ăn của thừa, của đút
lót thì làm chó mèo cho đúng bản chất.
Sau đó, mọi của ngon vật lạ trên mâm
tiệc đều được Thánh Mẫu tiếp đầy bát cho tôi và Minh. Bà có trí mẫn tiệp, nói
năng nhỏ nhẹ nhưng đầy sức thuyết phục, dường như đoán trước được tôi định nói
gì để đưa ra những lời chế ngự bớt tính hung hăng “thẳng ruột ngựa” của tôi
trước đám đông. Bà bảo:
- Cõi Trời, cõi Trần, cõi Âm, đâu đâu phàm là giống có mắt, có mũi, có mồm,
có tay đều tham lam cả. Mắt nhìn thấy tiền là muốn lấy, tay sờ thấy của là
muốn vơ, mũi ngửi thấy mùi cá thịt là xui cái mồm ăn lấy ăn để. Những kẻ làm
quan càng to càng tham lam, có mắng mỏ, chửi rủa, những đồ mặt dày ấy cũng
chẳng coi vào đâu. Mắng chỉ phí lời. Quân tham lam đó, chúng coi “tiền là tiên
là Phật”, mọi nhân nghĩa ở đời với chúng chỉ nhỏ như lỗ chôn kim!
Phần II
Cõi thiên đường
(26)
Thấy tôi và Minh được Thánh Mẫu tiếp
chuyện ân cần thân mật, các thiên binh thiên tướng, các Biểu tào cũng cầm ly
rượu đến chạm cốc với hai chúng tôi. Hình như họ làm thế để lấy lòng Thánh Mẫu,
Huệ và Nhàn, bởi vị thế của tôi và Minh đâu đáng được họ “xã giao” thân tình
đến vậy. Gần người sang bỗng nhiên mình được sang lây, cái “sang nhờ danh”
người khác ấy làm tôi đâm hoắng, quên béng thân phận mình chỉ là kẻ người
trần mắt thịt đi ăn theo. Giá lúc ấy, Phong tôi được vị quan trời nào đó gắn
cho cái mề đay do công lao “lên trời du lịch” thì có phải tôi sẽ “thank you”
(cảm ơn) họ cho đến tận lúc hạ huyệt xuống Âm phủ vẫn còn sướng âm ỉ không!
Giống người kể cũng lạ, khổ mãi không
sao, nhưng hễ may mắn được nếm tí hơi hướm cao sang đã thấy mình bỗng chốc vênh
vang, hớn hở ra trò, ra cái điều: “Ông được lên tiên đây, ông cũng là tiên
đây...!” Sau về gác tay lên trán nghĩ lại lúc ấy, tôi vẫn còn thấy ngượng,
xấu hổ mãi tận giờ.
Tiệc đang bốc tới cao trào, tiếng cốc
chạm nhau canh cách, ồn ào hưng phấn những tiếng hô “dzô nào, dzô đi, chúc mừng, chúc mừng!”. Giữa bầu không khí náo nhiệt ấy, bỗng một vị quan trời
râu tóc bạc phơ, diện bộ quan phục gấm trắng cùng hai tiểu đồng y phục trắng
phau bước đi khoan thai, nhàn nhã như đang dạo chơi. Vị này là Kim Tiên Bạch.
Chủ tiệc nhanh chóng bày thêm bàn mới rất thịnh soạn, trịnh trọng mời Kim Tiên
Bạch.
Nhìn chai rượu quý trên bàn - loại rượu
mà dưới trần gian phải mua bằng hàng vài nghìn Đô la - Kim Tiên Bạch có vẻ đắn
đo. Có lẽ ông sợ chủ tiệc thết đãi rượu quý hiếm, đắt tiền quá thì không tiện.
Dân nghèo trần gian còn chưa đủ cơm ăn áo mặc, mà trên trời cứ rượu chè bét xè
nhè, lãng phí như thế, nếu trần gian biết được họ oán cho, không sùng bái nữa
thì lấy đâu ra của ngon vật lạ mà hưởng? Thế thì có mà hết lộc! Trước khi uống,
Kim Tiên Bạch hỏi giá tiền chai rượu. Một vị quan trời đứng gần, biết tính ông
nên bèn tâu một câu lấp lửng:
- Dạ thưa, chai rượu này chẳng đáng là
bao đâu, ba bốn chục nghìn đồng là kịch giá...
Kim Tiên Bạch cầm chai rượu xoay xoay,
nhìn cái cổ rụt, ngắm cái đít lồi, ngó mác trước, xem nhãn sau thấy toàn
tiếng Tây, ông không tin chai rượu ấy chỉ giá mấy chục nghìn. Nghi bọn họ nói
dối, mua nhiều báo ít, ông nói:
- Các vị nói thế nào chứ, chai rượu Tây
xịn thế này mà có ba bốn chục nghìn thì lão không tin... lão không tin!
Một vị quan trời khác nhanh nhảu đón lấy
chai rượu từ tay Kim Tiên Bạch, lắc lắc mấy cái, vờ xem nhãn, giả nhìn đáy
chai rồi bồi thêm:
- Chai rượu này chưa đến bốn mươi nghìn đâu cụ ơi! Nhãn mác Tây nhưng nó
được “sản xuất” ở ta, nhân công rẻ nên giá thành chỉ thế thôi. Rượu ngoại nhập
khẩu cơ, thuế nọ thuế kia, cả thuế tiêu thụ đặc biệt cộng vào mới thành
vài chục triệu một chai chứ loại này chỉ rẻ như rau muống thôi!
Phần II
Cõi thiên đường
(27)
Kim Tiên Bạch tưởng thật, cứ ngỡ mình
đang được thưởng thức rượu “ngoại” sản xuất tại Việt Nam nên vui vẻ cụng ly,
nhấp môi thưởng thức. Tợp xong một ngụm, ông ta khen nức nở:
- “Chà chà, công nghệ Tây, người Việt
nấu có khác, ngon tuyệt! Hề hề, giá lại rẻ quá đi! Chỉ ba bốn mươi nghìn một
chai thì uống cho vui, chứ cái loại rượu mua bằng Đô, bằng Ơ, bằng Tệ thì lãng
phí quá, lão chẳng thiết. Ăn uống xa hoa như thế, khác nào ăn xương uống máu
đồng bào!”
- Nói thế chứ, ngay bộ đồ Kim Tiên Bạch
đang mặc, lúc biếu, người ta cũng khéo léo thưa: “Vải nội địa ấy mà, chẳng đáng
bao nhiêu, chưa đầy năm trăm nghìn đồng đâu, thưa đại lão Kim!”
Thử hỏi, bộ gấm dệt bằng tơ tằm nguyên
chất trắng tinh, hoa văn chìm nổi sống động như hoa thật đính lên mặt vải ấy,
mà dám bảo giá trị chẳng đáng là bao sao? Để dệt nên tấm áo đó là cả một quy
trình kỳ công: từ tay người nông dân trồng dâu nuôi tằm, chăm sóc khi tằm chín
lên né cuốn tổ; đến chị thợ thủ công ươm tơ, kéo kén; rồi qua tay thợ canh cửi,
thợ may khéo léo từng đường kim mũi chỉ mới tạo nên bộ quan phục quý hiếm mà
ngài đang diện. Lụa tơ tằm quý bởi đó là thứ sợi tơ tinh túy từ “thịt” mà con
tằm rút ruột nhả ra. “Thịt” chạm vào thịt vừa mềm mịn, vừa mát rượi, lại thoát
khí nhanh; chẳng như loại vải pha nylon, hễ ra mồ hôi là bết dính, gây ram ráp,
ngứa ngáy khó chịu. Các nhà tỷ phú, nguyên thủ những nước giàu có trên thế
giới muốn có bộ đồ 100% vải tơ tằm với giá vài nghìn Đô la. Vậy mà lúc
nhận quà, nghe họ bảo chỉ trên dưới năm trăm nghìn Việt Nam đồng, ngài cũng tin
sái cổ! Trách gì bao điều họ báo cáo về Trời đều không trung thực. Người dân
nơi trần gian đang vất vả khổ sở, nhưng theo báo cáo của thần linh, thổ địa và
ba vợ chồng nhà Táo Quân thì họ đang sung sướng lắm lắm: “Ơn Trời, nhờ Cụ, họ
béo tốt khỏe mạnh lắm!”. Trong lúc đó, thực tế họ đang phải chạy ăn từng bữa,
hết độn khoai, độn sắn, độn ngô mảnh, đến bo bo tống cho đầy dạ dày để rồi đêm
đêm mơ về cõi thiên đường trong giấc ngủ... mơ!
Chủ tiệc rót rượu mời Kim Tiên Bạch, họ
rót mời luôn cả hai tiểu đồng. Thấy thế, ông bèn ca cẩm:
- Thôi chết! Tiểu đồng của ta mới nứt
mắt ra đã mời chúng sử dụng “em thằng ma túy” thế này; quen mồm đi, lớn lên
nghiện ngập thì khổ vợ khổ con, tan cửa nát nhà mất thôi. Chung quy lại, trẻ hư
đều do người lớn làm hư chúng cả.
Một vị Tào phán quan đứng cạnh, rượu vào
đã đủ độ lơ mơ, chạm “cạch” li vào li của Kim Tiên Bạch:
-
Vô tư đi Cụ ơi! Dzô nào, dzô nào! Uống rượu thì việc gì phải nghĩ ngợi xa xôi?
Trần gian bây giờ tỉnh nào chẳng có vài nhà máy bia, nhà máy rượu; một nhà máy
mỗi năm sản xuất ra hàng vài triệu lít. Tuần rằm, mùng một, hội hè, giỗ chạp,
lễ Tết các kiểu; từ nhà tư, nhà thờ họ đến đình, chùa, đền, miếu, đâu đâu người
ta chẳng cúng Trời, cúng thần thánh bọn ta bằng rượu bia. Chúng ta không uống,
con cháu chúng ta không uống, kẻ hầu người hạ nhà Trời không uống thì trần gian
họ cúng thế phí rượu à? Đêm giao thừa năm nào các Tào phán quan chúng tôi đi
tuần du hạ giới chẳng đem về cả hàng triệu chai rượu, két bia. Uống đi, cho
chúng nó uống thoải mái đi, mất gì của Trời mà sợ! Hết rượu ta lại xuống hạ
giới khuân về, dưới đó vô thiên lủng là rượu bia. Các loại rượu quý khắp thế
giới đều có mặt tại Việt Nam, Trung Quốc; gần một tỷ rưỡi người hai nước này
thết rượu chúng ta dài dài kia mà, tội gì phải nhịn miệng! Rượu Tây, rượu Ta,
chai to chai nhỏ nhiều như thác đổ về Trời những ngày lễ Tết...
- Ai thích, ai nghiện thì cứ việc uống,
đừng làm hư lũ trẻ! - Kim Tiên Bạch gắt lên.
Vị Phán quan đó ngửa cổ dốc cả ly rượu
vào mồm, khà một tiếng rõ to rồi quay người một vòng, chân nọ đá chân kia ngật
ngưỡng. Song ông ta chìa li cho người tiếp rượu rót tiếp, rồi quay lại phía Kim
Tiên Bạch, nói tiếp:
- Chuyện của Ngài chẳng hạn! Dưới trần
người nào bị sao “quả tạ” (Sao Thái Bạch) của Ngài chiếu phải là năm đó gặp hạn
to, không chết người thì cũng ốm đau hoặc mất của. Họ sợ Ngài gieo tai ách,
gieo hạn “Thái Bạch” nên rằm tháng Giêng nào cũng phải cúng sao giải hạn lên
Ngài. Nào hình nhân thế mạng, tiền vàng, phẩm vật, rượu thịt dâng lễ Ngài cả
mâm cao ngất như núi, Ngài đã bớt ra khao ai bữa nào chưa?
Nhe xong Kim Tiên Bạch ngạc nhiên hỏi:
- Có cả chuyện ấy nữa à? Sao lão không
biết?
-
Ngài không biết thật ư? Quân hầu kẻ hạ không báo cáo Ngài sao? Vậy lầu son gác
tía từ đâu ra cho Ngài ở, xe loan xe phượng từ đâu ra cho Ngài đi mây về gió?
Phần II
Cõi thiên đường
(28)
Nghe thấy thế, Kim Tiên Bạch chỉ biết
vái trời, chẳng biết phải tranh cãi sao với những vị “quan trời” đủ mọi cấp bậc
đang bốc đồng vì rượu. Mặt họ đỏ phừng phừng, tay cầm chai rót, tay cầm cốc
dốc ngược vào miệng tì tì để thỏa cơn sung sướng.
Tiệc tan, lúc đứng dậy ra về, Thánh Mẫu
quay sang bảo tôi và Minh:
- Hai anh nên về lại trần gian đi, đừng
quấy rầy hai con gái ta mãi. Ta đang cần chúng thay ta trông coi tiên giới một
thời gian dài; trên này chẳng có thời giờ để lươn khươn như dưới đó đâu. Đừng
lẽo đẽo bám theo con gái ta dai như đỉa đói, làm chúng bỏ bê bao việc đại sự
của ta. Cái giống đàn ông háu gái các ngươi thời nào cũng sẵn như rác đô thị,
dọn mãi không hết. Về mà quây quần bên vợ con mình thì hơn. Đừng để ta nổi
giận, lúc đó thì không phải chuyện thường đâu!
Nghe Thánh Mẫu mắng, Huệ níu lấy cánh
tay bà, miệng liên tục nũng nịu:
- Kìa mẹ, kìa mẹ… ứ ừ mẹ…
Huệ nói thêm:
- Mẹ ơi, tuy trần gian là “sông đau biển
khổ” thật, nhưng con vẫn muốn sống ở đó. Con xin nói trước, hễ có cơ hội, con
lại xin đầu thai xuống hạ giới. Loài người tuy đói nghèo, khổ ải nhưng đại bộ
phận họ biết yêu thương, sống với nhau bằng lòng nhân ái, vị tha. Hạnh phúc của
họ kết tinh từ lòng can đảm và đức hy sinh. Ngay trong nghèo túng, họ vẫn sinh
ra những thiên thần bé nhỏ - điều mà cõi tiên chúng ta chẳng bao giờ có được.
Thánh Mẫu trừng mắt:
- Chị giỏi thật! Vâââ…âng, mai chị xuống
ngay đi… cho tôi nhờ!
Đúng lúc ấy, Duy đi tắm về, mở cửa đánh
rầm. Một bài “ca không tên” vang lên đầy riết róng:
- Này!
Không phải ra biển để vùi đầu ngủ như chết thế đâu nhé, phí tiền thuê phòng
nghỉ đi. Ngoài kia người ta tắm táp, ăn uống ầm ầm, còn ông cứ nằm lù lù như
đụn rạ nát, chán ghê cơ. Nằm để mọc nấm lấy ăn hả? Dậy! Ra biển tắm mau!
Tôi hé mắt nhưng chẳng buồn ngồi dậy vì toàn thân mỏi rã rời. Mặc kệ bà ta ca cẩm, tôi vơ chiếc gối che kín mặt định ngủ tiếp. Tôi muốn nối lại giấc mơ Tiên. Giấc mơ Tiên… Xuống âm phủ chẳng ai muốn, trừ kẻ quá khổ mới thốt lên: “Chết quách đi cho xong”, nhưng mấy ai tự “chết” quách đi được. Còn lên thiên đường thì cả nhân loại đều khao khát. Riêng tôi, được tới thiên đường một lần - dù chỉ là thiên đường trong giấc mơ ngủ - cũng đủ thấy chán chường. Bởi lẽ, cõi tiên ấy cũng phàm tục như chốn nhân gian, chẳng tốt đẹp gì hơn. Nếu mai này trăm tuổi có được lên thiên đường thật, tôi cũng xin vái lạy, xin kiếu cái nơi mà tôi đã lỡ gặp trong mơ!
Viết
xong ngày 21 tháng 8, 2006
HOÀNG XUÂN HỌA
-------------------------------------
Những chú
thích:
(1): Kịch Vũ
Như Tô của nguyễn Huy Tưởng
(2). Thơ Nguyễn
Hòa Bình
(3): Kinh Tân ước.
(4): Thơ Gia
Dũng.
(5): Câu thơ
Kiều.
(6): Vế đối của
nhà thơ Thanh Tịnh.
(7): Thơ Tố Hữu
(8): Theo thần
thoại Hy Lạp, người gây tội ở trần gian khi xuống địa ngục phải lăn đá ngược
lên núi để chuộc tội.
(9): Văn hóa
cổ thần bí phương Đông : sao Hàm Trì chỉ người dâm đãng, trụy lạc.
(10): Thơ Hải
Thanh
(11). Thơ Dương Tường
(12): Tiểu
thuyết của văn hào Nga Lev.Tolstoi.
(13): Tiểu
thuyết của nhà văn hiện đại Nga Mikhain Sholokhov.
(14): Lý Bá Sơ, nơi cải tạo tù hàng binh, tề nguỵ thời kháng chiến chống Pháp, giờ là trại cải tạo Ba Sao tỉnh Hà Nam.
CHUYỆN CÕI TRỜI, CHUYỆN CÕI ÂM
Tiểu thuyết
HOÀNG XUÂN HỌA
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN
65 Nguyễn Du – Hà Nội
Tel & Fax: 04
38222135
E-mail: nxbhoinhavan@yahoo.com.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản:
PHẠM TRUNG ĐỈNH
Chịu trách nhiệm bản thảo:
TRẦN QUANG QUÝ
Biên tập: Tạ Duy Anh
Bìa: Dương Gia Liêm
Tranh bìa của họa sỹ Nguyễn Lý Phương Ngọc
Trình bày: Hải Thành
Sửa bản in: Đức Tùng
In 500 cuốn;
khổ 13 20,5 Tại nhà in………………
Giấy đăng ký KHXB số: 920-2012/CXB/76-55/HNV
Quyết định của giám đốc NXBHNV: số 771/QĐ-NXBHNV,
ngày 4
-10- 2012.
In xong nộp lưu chiểu tháng 10 - 2012
-----------
Tác
giả Hoàng Xuân Họa
(Người
giữ bản quyền)
