Truyện ngắn -
Hoàng Xuân Họa
Cả cơ quan nhốn nháo khi nghe tin ông Tiết - biệt danh “Tiết Canh Ngan” sắp về thăm huyện nhà. Từ quân đến cán, ai nấy đều lo sốt vó bởi lời đồn thổi đại loại: Hễ nơi nào đón tiếp ông thiếu chu đáo, kém hoành tráng, y như rằng sau đó sẽ bị ông cho “lên bờ xuống ruộng”. Nhẹ thì chuẩn bị hứng một “trận mưa” văn bản yêu cầu báo cáo khẩn, toàn những số liệu từ thời “chống Mỹ, đánh Tàu” xa lắc xa lơ mà hạn nộp lại là... ngay sáng ngày mai. Nặng thì ông phái ngay đoàn thanh tra tới “nằm ì ăn vạ”, ngày đêm rà soát từng tờ hóa đơn tiếp khách, hoặc bắt giải trình chi tiết từng mét khối rác thải tồn đọng ngoài bờ sông Mỹ Cọ. Thâm thúy hơn, đôi khi ông chỉ cần bâng quơ chỉ đạo huyện thực hiện một dự án thí điểm “bất khả thi” nào đó, kèm theo lời dặn hờ hững: “Kinh phí thì... cứ vay vốn ngân hàng mà làm trước đi đã!”. Không làm thì coi chừng, mà làm thì cái bẫy nợ xấu treo lơ lửng trên đầu.
Thực ra, sở
thích của vị quan lớn này chẳng có gì đao to búa lớn, trái lại, cực kỳ đơn
giản! Này nhé: Khi chiếc chuyên xa chở ông và đoàn tùy tùng vừa tới, dù cái
cổng huyện to lù lù đủ sức cho xe tải mười lăm tấn chui lọt, ông vẫn bắt tài xế
đỗ tít ngoài đường cái quan. Ông muốn cơ quan sở tại phải có dàn nam thanh nữ
tú xếp hàng ôm hoa cung đón; các quan chức địa phương cũng phải khúm núm ra tận
lề đường rước ông vào “huyện đường”.
Đặc biệt,
nghi thức đón tiếp nhất thiết phải có một dàn nhân sự trẻ măng gồm bảy nam,
bảy nữ. Bảy chàng trai phải diện sơ mi vải pô-pơ-lin trắng toát đóng thùng với
quần bò Mỹ; bảy cô gái thì thướt tha trong tà áo dài mang đủ bảy sắc “cầu vồng
đi đón cơn mưa”: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Bên dưới, các nàng diện
quần trắng đồng màu bằng chất vải sa-tanh mỏng tang, mỏng dính. Tất cả chỉ để
phục vụ cho cái thú vui tao nhã của ông: vừa bước xuống xe là được ngắm “rừng”
ngó “núi” cho tỉnh người, tươi đôi mắt sau chuyến vượt mấy trăm dặm đường đèo
dốc tới thăm địa phương.
Khổ nỗi, cái sự “tỉnh người”, “tươi đôi mắt” của
ông lại là nỗi kinh hoàng cho cả bộ máy hành chính sở tại. Để có được hai hàng
“đội hình” chuẩn chỉnh ấy, gã Chánh văn phòng đã phải lục tung danh sách cán bộ,
huy động từ Hội Phụ nữ đến Đoàn Thanh niên, thậm chí phải “mượn” cả mấy cô giáo
mầm non thực tập mới đủ quân số phục vụ sở thích oái oăm của ông. Đúng ngày ông
“Tiết Canh Ngan” đến, nắng không những đổ lửa xuống toàn miền thượng du bạt
ngàn đá xếp, đá chồng, đá chông, đá gươm, đá giáo, mà còn dội thẳng xuống đầu
những người đang chực chờ đón ông. Hai hàng nam thanh nữ tú đứng nghiêm như duyệt
binh, mồ hôi nhễ nhại nhưng tuyệt nhiên không ai dám nhúc nhích. Những tà áo
dài mỏng dính bết chặt vào người, phô ra tất cả những gì lẽ ra phải kín đáo;
cái vẻ thanh tao biến mất, chỉ còn sự bẽ bàng phơi ra dưới cái nắng rát ràn rạt.
Cái uy của ông Tiết lớn đến vậy là nhờ cái mác
“luân chuyển” đầy vị thế. Vốn là Bí thư một tỉnh miền xuôi, ông được điều động
lên vùng biên viễn theo chủ trương của cấp trên. Giữa chốn cao nguyên đá gập ghềnh,
nơi cảnh sắc “khỉ ho cò gáy” và đường sá cách trở muôn trùng, ông thực thi
phương châm “người lạ phải bắt đất lạ thành quen” bằng chính cái chất văn nghệ
sẵn có. Ông biến thơ ca thành vũ khí thu phục nhân tâm: cứ đến mỗi huyện, ông lại
phóng bút tặng một bài thơ để địa phương tức tốc phổ nhạc thành bài “huyện ca”
truyền thống. Huyện Gò Vai cũng không ngoại lệ, được ông ưu ái ban cho bài “Chiều
Tây Gò Vai”.
Tiếng còi xe dẫn đường inh ỏi rồi khựng lại
ngay ngoài đường cái lớn, đúng theo “kế hoạch” ông Tiết đã vẽ sẵn trong bụng.
Ông bước xuống, cái bụng phệ khệnh khạng dẫn xác đi trước, mặt hất ngược lên tận
trời xanh, hai tay vung vẩy theo nhịp bước như lính tập chỉnh đốn đội ngũ; bộ dạng
ông cố ra oai tựa một ngôi sao ca nhạc vừa xong sô diễn, sấn xuống giữa đám
“người hâm mộ” để ban phát nụ cười cùng vài cái bắt tay cho đám đông được “hưởng
tí sung sướng”. Ánh mắt ông quét qua đội hình “bảy sắc cầu vồng”, rồi dừng lại
thưởng thức những “vùng bánh kẹo” đầy đặn, thây lẩy mà ông vẫn gọi vui là đội
thời trang “bổ mắt”.
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc ông chuẩn bị bắt
tay gã chủ tịch huyện đang khom lưng chờ sẵn, một sự cố “ngoài kịch bản” đã xảy
ra. Một cô nhân viên trẻ - phần vì nắng gắt đến xây xẩm, phần vì quá đỗi xúc động
khi được diện kiến ông ở khoảng cách gần, lại thêm đôi giày cao gót mượn tạm chật
ních - bỗng loạng choạng rồi ngã nhào về phía trước. Theo bản năng, cô quờ quạng
tìm điểm tựa. Trớ trêu thay, thứ duy nhất cô vớ được lại chính là chiếc thắt
lưng da cá sấu nổi vân bóng lộn của ông.
“Phựt!” - một tiếng “phựt” khô khốc vang lên
giữa không gian đang im phăng phắc, nghe còn đanh gọn hơn cả tiếng bật nút
sâm-panh. Chiếc thắt lưng vốn đã gồng mình chịu đựng cái bụng vĩ đại từ sáng,
nay gặp cú giật bất ngờ, hàng răng cưa không còn bấu víu nổi vào lẫy khóa mà
trượt tuột ra, chính thức “đầu hàng số phận”. Chiếc quần tây hàng hiệu phẳng
phiu, dưới sức kéo mạnh cộng thêm sự “phản chủ” của cái bụng thùng phi, cứ thế
từ từ trôi xuống... Hàng trăm cặp mắt đồng loạt đóng băng trước một cảnh tượng
không thể nào trớ trêu hơn. Giữa lúc ấy, dàn ca sĩ
“hát mồm” bắt đầu rướn giọng bài “Chiều Tây Gò Vai”, cùng lúc hệ thống loa
truyền thanh cũng đồng loạt réo lên bản thu âm bài hát của ông với âm lượng cực
đại. Khổ nỗi, tiếng trên loa thì dồn dập như một khúc quân hành, còn dàn ca sĩ
dưới sân lại rên rỉ theo lối trữ tình. Hai
luồng âm thanh đâm sầm vào nhau chát chúa, nghe loảng xoảng chẳng khác nào hai
cái chợ đang cãi nhau vung xích chó.
Cái sự “tươi mắt” và bát nháo ngoài cổng mới chỉ
là màn khai vị. Thứ khiến giới chức huyện thực sự “mất ăn mất ngủ” lại nằm ở
mâm cơm tiếp đón sau đó. Đến huyện nào ông Tiết cũng vỗ vai cấp dưới, giọng đầy
vẻ thân tình: “Mình sống đơn giản thôi mà, bát tiết canh ngan với chén rượu
ngô của đồng bào là quý rồi, bày vẽ sơn hào hải vị làm gì cho dân người ta dị
nghị!”
Sự “đơn giản” của ông mới thật đáng bàn. Thịt
ngan phải là loại ngan dé thả vườn, nuôi hoàn toàn bằng cháo ngô nếp nù bao tử
- loại ngô hạt trắng xen hạt vàng, hạt tím trồng trên những hốc đá ở các bản
quanh vùng chợ “Dải Tình Vá Vai”. Lông cánh phải mượt, nặng chưa đầy hai cân,
thịt thơm mà không bã, mỡ chưa kết lá trong ổ bụng.
Khổ nhất là khâu hãm tiết. Ông Tiết có cái lưỡi
thưởng thức tiết canh đã thuộc hàng... “động vật thành tinh”. Tiết canh hơi đậm
muối một chút là ông nhăn mặt: “Thế này là đầu độc Bí thư à?”. Mà đánh nhạt thì
tiết không thể nào đông được. Mỗi lần ông về, gã đầu bếp giỏi nhất huyện phải
huy động cả chục con ngan dự phòng, đánh đi đánh lại, thử tới thử lui. Đến khi
nào bát tiết canh đông sánh như thạch, rực lên một màu đỏ tươi bắt mắt, bề mặt
phẳng lì không một vết gợn “mây đen” thì mới dám bưng lên mời ông thưởng thức.
Còn rượu ngô, không phải cứ ra chợ mua đã là rượu.
Phải là thứ rượu thẩu chíu (rượu nước đầu) được nấu bằng loại ngô màu
tím (giống ngô truyền thống của đồng bào H’mông), ủ bằng men lá và
nhất định phải là rượu ngô Há Ía (rượu ngô Há Ía nổi tiếng thơm ngon
vì được nấu bằng thứ nước lấy từ mó nước tại thôn Há Ía). Cũng giống
như bia Hà Nội, phải dùng nguồn nước ở làng Vạn Phúc (nay là 183 Hoàng Hoa
Thám) mới đúng vị bia Hà Nội. Nấu bằng nước nơi khác thì chẳng khác gì bia cỏ
nấu lò thủ công. Rượu ngô rót ra phải kết tăm li ti, bám chặt lấy thành chén nửa
phút sau mới chịu tan. Khi thưởng thức, rượu có vị thơm ngọt nhẹ của men lá
quyện cùng cái cay nồng của rượu thẩu chíu lan tỏa khắp khoang miệng, khiến
người uống cảm được cả mùi gió, mùi nắng, mùi đá cao nguyên. Đặc sản ấy dù có
uống quá chén cũng không gây váng đầu nhức óc, lúc tỉnh dậy người vẫn nhẹ tênh
tênh, cảm giác lâng lâng như vừa du lịch cõi tiên bồng về.
Trước ngày ông Tiết về cả tuần, huyện phải cử một
tổ ba người, dành hẳn cho họ chiếc xe bán tải để đi tìm nguồn thực phẩm. Người
bò rạp trên vách đá, kẻ lội suối băng đèo, lùng sục vào tận lò rượu danh tiếng
nhất - thứ rượu mà ông từng ban lời khen một lần vào năm ngoái.
Nhìn
cách ông Tiết rung đùi húp sùm sụp bát tiết canh, tay lắc lư chén rượu ngô để
“xem” tăm rồi gật gù khen bữa cơm “dân dã, tiết kiệm”, gã Chánh văn phòng khẽ
đưa tay quẹt mồ hôi hột trên trán. Gã nhẩm tính, bữa cơm “tiết kiệm” này bằng
mấy tấn ngô của những người dân vừa hứng trận lũ ống, lũ quét trôi nương, chìm
ruộng. Mùa đông, đồng bào còn được “ông anh bốn tốt” bên kia biên giới “tặng”
cho đủ thứ “rét ngọt”, “rét bùi”; ba ngày mưa dầm, bảy ngày rét hại, nhưng đồng
bào vẫn cứ... vui như Tết! Nên các ông mới tưởng... họ là ngan... để đem ra
đánh tiết canh suốt!
Xung quanh ông Tiết luôn có một đội ngũ “vệ
binh” thiện xạ trong việc nắm bắt tâm lý. Kẻ cầm đầu “biệt đội” này không ai
khác chính là lão Chánh - người có khả năng đọc được mọi ý nghĩ trong đầu ông
Bí thư chỉ qua một cái nhíu mày. Khi ông Tiết bưng bát tiết canh lên, chưa kịp
nếm, lão đã vội xuýt xoa:
- Báo cáo anh, tiết canh này chúng em phải chờ
đúng giờ “hoàng đạo” mới cắt tiết ngan. Nhìn bát tiết đỏ đẹp thế này là biết vận
khí tỉnh nhà đang thời kỳ đại cát, đúng như tầm nhìn chiến lược của anh!
Đến khi ông Tiết nhấp chén rượu ngô, khà lên một
tiếng đầy thỏa mãn, tay Phó Chủ tịch huyện - vốn nổi tiếng là “thần rượu” cũng
chỉ dám nhấp môi, nhìn chén rượu như báu vật rồi “đò đưa cưa kéo”:
- Rượu
mang linh khí đại ngàn, nhưng cái hay nhất là gặp được người có tâm có đức, yêu
bản thương dân như anh. Được anh uống cho thì nhân dân cũng mát lòng mát dạ.
Người khác uống vào là say đảo đất nghiêng trời, riêng anh uống vào lại thêm
minh mẫn để lãnh đạo tỉnh nhà bay cao, bay xa vượt đỉnh cột cờ Long Cổ (*) suốt
ngày đêm phất phới luôn!
Đỉnh cao của sự nịnh hót là khi ông Tiết lỡ tay
làm rơi một miếng thịt ngan xuống sàn. Cả bàn tiệc bỗng lặng ngắt như đang mặc
niệm. Trong khi ông Tiết còn “đơ máy tính” vì sự vô ý của mình, thì tay
Chánh văn phòng đã nhanh như cắt đảo đầu đũa gắp miếng thịt lên, vừa cung kính
vừa reo khẽ:
- Ôi, lộc của núi rừng! Miếng lộc này rơi đúng
hướng Đông Nam, theo phong thủy là điềm báo anh sắp được Trung ương nhấc lên vị
trí cao hơn nữa đến nơi. Rồi hắn đút tót miếng thịt vào mồm mình!
Ông Tiết nghe thế, cái bụng phệ rung lên bần bật
vì cười. Ông sướng đến mức quên cả chuyện mất vệ sinh, tay vỗ đùi đôm đốp:
- Các chú chỉ được cái... hiểu ý anh!
Đám
nịnh thần kẻ tung người hứng, nhịp nhàng như một phường giả dối. Chúng không chỉ dùng lời lẽ xu nịnh,
mà còn biểu lộ qua vóc dáng khom lưng uốn gối cùng ánh mắt kính ngưỡng ngụy tạo.
Sở thích quái gở của Tiết nghiễm nhiên biến thành một thứ “tôn giáo” mà cả huyện
là tín đồ: kẻ cầm dùi gõ mõ, người chực sẵn đánh chuông, đồng thanh tấu lên
khúc nhạc tâng bốc hắn lên tận mây xanh.
Việc ăn đã kỳ công, nhưng giấc ngủ của Tiết mới
thực là một “công trình nghệ thuật” để hành xác cấp dưới. Tiết luôn miệng rao
giảng đạo đức: “Tôi đi cơ sở là để gần dân, không cần khách sạn hạng bốn sao,
năm sao cho tốn phí. Cứ cho tôi một phòng thanh tịnh ngay trong nhà khách huyện
là được.”
Nhưng cái sự “thanh tịnh” ấy lại là một nỗi ám ảnh
kinh hoàng. Đầu tiên là cái giường. Vì chứng đau lưng kinh niên - cái chứng đau
lưng của hạng người ngồi ghế bọc da quá nhiều - nên đệm của ông không được quá
mềm vì sợ lún, nhưng tuyệt đối không được quá cứng vì sợ chạm vào các khớp
xương quý tộc. Thế là, gã Chánh phải lùng bằng được loại đệm bông ép của hãng
bông danh tiếng, rồi bọc thêm lớp chiếu điều hòa dệt thủ công tận Nam Bộ gửi
ra, để lưng Bí thư luôn mát mà không bị nhiễm lạnh.
Nhất là khoản “âm thanh và ánh sáng”. Tiết chỉ
ngủ được trong không gian tối đặc trưng với ánh đèn ngủ vàng nhạt đúng tông
“hoàng hôn trên biển”. Rèm cửa phải là loại vải ba lớp dày cộp, không để một
tia sáng nào lọt qua, vì theo lời tay thư ký riêng: “Bí thư mà mất ngủ là ngày
mai cả tỉnh mất phương hướng”.
Và cái “thanh tịnh” của Tiết là tuyệt đối
không được có tiếng động. Đêm đó, cả khu vực nhà khách bỗng chốc trở thành
“vùng tĩnh lặng”. Đám bảo vệ phải đi chân đất, không dám ho một tiếng. Thậm
chí, gã Chủ tịch huyện còn phải ra lệnh cho công an xã đi “vận động” dân quanh
vùng dẹp sạch... mấy con chó hay sủa hóng ban đêm. Cả dàn điều hòa phải được bảo
trì trước đó cả tuần; cục nóng không được phép rung, hễ kêu “rè rè” là tay thợ
điện xác định mất việc. Đúng là một giấc ngủ “gần dân” theo phong cách vương
giả!
Đỉnh điểm của sự lố lăng chính là giai thoại về “thủy khí” - thứ
“khí của nước” theo quan niệm “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài”. Nghe lời thầy
phong thủy phán mình mệnh Thủy, ngủ phải có tiếng nước róc rách bên tai mới
mong “tụ tài, tấn lộc”, lão liền hành đám nhân viên hì hục cả ngày trời xây cái
tiểu cảnh tuần hoàn mini sát cửa sổ. Tiếng nước chảy phải đạt chuẩn khắt khe: vừa
đều, vừa thanh, lại tuyệt đối không được bắn ra ngoài dù chỉ một giọt.
Nhìn cảnh mấy ông quan chức huyện, bụng cũng to chẳng kém gì
sếp, mà phải rón rén đứng canh ngoài hành lang, tay lăm lăm vợt điện sẵn sàng
nghênh chiến với bất cứ con muỗi nào bén mảng đến cửa phòng Bí thư, người ta
không biết nên cười hay nên mếu. Bên trong, ông Tiết say sưa nồng nàn sau bữa
tiết canh và rượu ngô. Tiếng ngáy quyền lực của ông vang lên pho pho, làm rung rinh
cả mấy cây trầu bà xanh trang trí trong phòng, để mặc ngoài kia cả một bộ máy đang
nín thở chờ ông thức giấc.
Sáng hôm sau, ông Tiết vươn vai thức dậy trong
tiếng suối nhân tạo róc rách. Sau bữa điểm tâm “nhẹ nhàng” với tô gà đen tần
thuốc bắc - đủ vị: hạt sen, long nhãn, ngọc trúc, ý dĩ, bạch quả, ngải cứu hầm
nước dừa tươi ngon lành - ông mới lững thững bước ra sân, nơi chiếc xe biển
xanh đã nổ máy chờ sẵn.
Nhưng ông chưa lên xe ngay. Ông đứng lại ở sảnh,
tay chắp sau lưng, mắt lim dim nhìn trời đất như thể lưu luyến mảnh đất địa đầu
này lắm. Một chiếc hòm gỗ đóng đai chắc chắn đang được khiêng ra. Theo lời Chủ tịch
huyện, đó là những “đặc sản nhà trồng được”, chút tấm lòng của bà con vùng sâu
vùng xa, nơi chó nhai đá gà xơi sỏi bên cạnh những thằng dân hiền lành tốt bụng.
Đầu tiên là
hai hũ mật ong bạc hà thượng hạng, mỗi hũ năm lít sóng sánh sắc vàng chanh hòa
cùng ánh xanh ô liu - thứ được mệnh danh là “vàng lỏng” của cao nguyên đá.
Nhưng gây choáng ngợp nhất phải kể đến chiếc hộp mica trong suốt đặt trang
trọng bên cạnh. Bên trong là một cái túi màu nâu thẫm, nhăn nheo, dúm dó - túi
mật gấu thật một trăm phần trăm. Để có được túi mật khô này, đám cấp dưới đã
phải bí mật lặn lội sang tận bên kia biên giới, bởi chỉ nơi ấy mới sẵn nguồn
“mật gấu Phi Châu” nhằm phục vụ cho giới thượng lưu bên đó.
Ông Tiết nhìn hai hũ mật ong và hộp mật gấu, mặt
tỉnh bơ nhưng tay lại vê vê sợi lông “lộc” mọc giữa cái nốt ruồi son dưới cằm
nhẵn nhụi. Rồi ông gật gù:
- Các chú vẽ chuyện, tớ đã bảo là không quà cáp
gì cơ mà. Nhưng thôi, bà con đã có tấm lòng thì mình cũng không nỡ chối từ. Mật
ong để cả nhà tớ pha nước chanh thải độc mỗi sáng. Còn mật gấu... để bà xã tớ
ngâm rượu xoa bóp nếu đi khiêu vũ có chẳng may bầm chân tím da, chứ tớ thì cần
gì!
Tiếp đến là những bánh cao khỉ, cao gấu, cao
trăn được gói ghém cẩn thận trong giấy bản. Tay Chánh văn phòng rỉ tai đầy vẻ nịnh
bợ:
- Báo cáo anh, bà con dân bản xin biếu anh
chút “tình rừng nghĩa núi” cho các quý tử. Đây là cao trăn toàn tính hàng “đặc
biệt”, được tinh luyện từ ổ trăn chuyên ăn dơi chúa, chồn vương, bọ cạp nữ
hoàng đã tu luyện thành tinh trong hang đá mấy trăm năm. Các cháu bồi bổ
thứ này, sẽ hoạt bát năng động, thông minh đúng chuẩn gen con dòng cháu
giống nhà mình!?
Chưa hết, sau mật và cao là hàng loạt bao tải lỉnh
kỉnh: nào nấm hương rừng, thịt bò khô rồi cả một chú lợn mán cắp nách đã được
làm sạch trắng hếu, nằm gọn lỏn trong thùng xốp xếp đá lạnh xung quanh và sau
cùng không thể thiếu được trong các món quà đặc sản của miền đá Gò
Vai là can rượu ngô thẩu chíu Há Ía. Cái cốp xe rộng thênh thang ban đầu
giờ bỗng trở nên chật chội vì sức nặng của quà cáp.
Ông Tiết bước lên xe, không quên hạ kính xuống,
giơ tay vẫy chào dàn nam thanh nữ tú lại một lần nữa xếp hàng dọc hai bên cổng
huyện. Ánh mắt Ông Tiết vẫn lướt nhanh qua những chiếc áo dài mỏng giờ đã hơi
nhăn nhúm vì “phơi” nắng đón ông suốt mấy ngày qua.
Xe chuyển bánh, bụi cuốn mù mịt. Tiết ngồi
trong xe, nhắm mắt hưởng thụ mùi thơm của đặc sản rừng và vị ngọt lịm của quyền
lực. Dưới sân, hai gã Bí thư. Chủ tịch huyện thở phào một cái rõ to, quẹt mồ
hôi trán rồi lẩm bẩm với tay kế toán:
- Xong nhé! Ghi hết hóa đơn vào mục “Chi phí hội
nghị xúc tiến đầu tư” của huyện và nghĩ thầm trong bụng không khéo là cái
ghế khóa tới của mình lại nằm gọn trong mấy hũ mật ong với túi mật gấu ấy chứ
chẳng chơi!
Chiếc xe
khuất dần, để lại một miền đá tai mèo xào xạc. Xác xơ nghèo vẫn hoàn
nghèo như cái khô cằn muôn thưở của đá, chỉ có cái cốp xe của ông Bí thư
là đầy ắp “TÌNH DÂN”!
HXH
18-5-2015
------------------
(*):
Long Cổ (Trống
của Vua): Theo lịch
sử, từ thời Tây Sơn, sau khi đại phá quân Thanh, vua Quang Trung đã cho đặt một
chiếc trống đồng cực lớn tại đỉnh núi này. Cứ mỗi canh giờ, lính biên phòng lại
gióng lên ba hồi trống để khẳng định chủ quyền quốc gia. Người dân địa phương
từ đó gọi đỉnh núi và cột cờ là Long Cổ (chữ “Long” nghĩa là vua, “Cổ”
nghĩa là trống.
https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=31546
