Ảnh nguồn: Internet
ME TÂY TƯ HỒNG - NGƯỜI PHÁ HOÀNG
THÀNH THĂNG LONG
(Chuyện cũ viết lại)
Tư Hồng, tên thật là Trần Thị Lan, sinh năm 1868 tại Hà Nam và mất sau năm 1921. Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo và mồ côi mẹ sớm, cuộc đời bà trải qua nhiều biến cố chìm nổi. Năm 17 tuổi, do cha mắc nợ, bà bị ép gả cho một lý trưởng già làm vợ lẽ. Với tính cách mạnh mẽ, không cam chịu số phận, bà bỏ trốn ra Nam Định làm thuê rồi kết hôn với một người bán bún xáo trâu. Hai người chung sống được 2 năm nhưng không có con.
Trong một lần tình cờ, bà gặp một thương nhân Hoa kiều giàu có tên là Hồng
đưa thuyền về Nam Định thu mua lúa. Say mê nhan sắc của bà, ông Hồng đã bỏ tiền
trả nợ cho gia đình rồi đưa bà về Hải Phòng sinh sống. Theo phong tục thời bấy
giờ, người Việt thường gọi vợ bằng tên của chồng, từ đó bà được người đời gọi
là “thím Hồng” hoặc “Tư Hồng”. Đến cuối năm 1890, công việc xuất khẩu gạo của
ông Hồng bị thua lỗ nặng nề khiến ông phải trốn về Tàu. Bà Tư Hồng ở lại mở
một hiệu tạp hóa nhỏ, sau đó được một người bạn rủ lên Hà Nội tìm cơ hội đổi
đời.
Tại Hà Nội, bước ngoặt lớn nhất cuộc đời bà xuất hiện khi bà kết hôn với
người chồng thứ ba - viên sĩ quan Pháp Croibier Huguet, từ đó bà còn được gọi
là cô Tư Laglan. Huguet vốn là một cố đạo phá giới chuyển sang binh nghiệp, giữ
chức quan tư (thiếu tá) thuộc bộ phận hậu cần của quân đội Pháp đóng tại Bắc
Kỳ. Năm 1892, trong một buổi khiêu vũ nhân ngày Quốc khánh Pháp tại Hà Nội,
viên sĩ quan ngoài 30 tuổi này đã lập tức si mê nhan sắc cùng sự khéo léo của
Tư Hồng trên sàn nhảy.
Vào cuối thế kỷ XIX, nhà thầu cung cấp nhu yếu phẩm cho quân đội Pháp tại
Bắc Kỳ chủ yếu là người Hoa. Nhận thấy người chồng mới có tầm ảnh hưởng lớn
trong việc đấu thầu, Tư Hồng nhanh chóng quyết định thành lập công ty thầu An
Nam do chính mình làm chủ. Nhờ thế lực và sự tác động của chồng, công ty của bà
liên tiếp trúng thầu các dự án cung ứng nhu yếu phẩm lớn.
Tuy nhiên, tên tuổi của Tư Hồng chỉ thực sự nổi tiếng khi bà vượt qua các
nhà thầu sừng sỏ người Pháp và người Hoa để trúng thầu dự án lớn: Phá dỡ Hoàng
thành Thăng Long (thành Hà Nội) vào năm 1894. Sự kiện này đã biến bà thành nữ
doanh nhân đầu tiên của Việt Nam, một thương nhân sắc sảo lừng lẫy nhưng cũng
đầy tai tiếng trong lịch sử Hà Nội.
Lúc bấy giờ, tham gia đấu thầu dự án phá thành có hai công ty lớn của Pháp
và hai công ty của Hoa kiều. Là đại diện Việt Nam duy nhất, công ty của Tư Hồng
dù non trẻ, vốn ít và hoàn toàn không có máy móc hiện đại, nhưng nhờ tính toán
thông minh đã giành chiến thắng. Bà tận dụng nguồn nhân công nông thôn giá rẻ
và áp dụng phương thức đấu thầu thông minh: bỏ thầu với mức giá thấp nhất, bù
lại sẽ thu lợi nhuận từ việc gom gạch đá cũ của thành đem bán lại.
Trên công trường phá thành khởi công năm 1894, có lúc số lượng lao động lên
tới gần 1.000 người. Tư Hồng tự mình đứng ra thuê nhân công, đặt làm dụng cụ và
dựng lán trại từ nhiều nguồn khác nhau. Đáng chú ý, trong số những người được
bà thuê thầu phụ thời đó có cả Bạch Thái Bưởi - người sau này trở thành “Vua
tàu thủy” lừng lẫy của Việt Nam. Chỉ sau hơn 2 năm, dự án đã hoàn thành sớm hơn
thời hạn gần 6 tháng. Số vật liệu cũ thu gom từ Hoàng thành được bà dùng để xây
dựng ngôi biệt thự bề thế của mình ở ngõ Hội Vũ, đồng thời xây loạt dãy nhà cho
thuê tại các khu phố sầm uất như Quán Sứ, Hàng Da, và Cửa Đông.
Sang đầu thế kỷ XX, Tư Hồng tiếp tục mở rộng đế chế kinh doanh sang mảng
vận tải đường sông và đường biển. Đội tàu của bà có một đặc điểm độc nhất vô
nhị thời bấy giờ: ngoại trừ vị trí lái tàu và xúc than cần sức lực đàn ông,
toàn bộ lực lượng thủy thủ trên tàu đều là nữ giới. Song song với việc độc
quyền cung cấp thực phẩm cho quân đội Pháp, bà còn trúng thầu cung cấp thức ăn
cho hệ thống các nhà tù ở khắp Bắc Kỳ.
Dù gặt hái được những thành công vang dội trên thương
trường, việc đứng ra làm chủ thầu phá hủy chứng tích lịch sử là thành Hà Nội đã
khiến Tư Hồng phải gánh chịu làn sóng dè bỉu, khinh miệt sâu sắc từ xã hội và
giới trí thức đương thời. Thêm vào đó, dù là người ít chữ,
bà lại có
sở thích đàm đạo văn chương và thường xuyên mở tiệc mời rượu các nhà nho thất
cử để thỏa lòng ham mê chữ nghĩa.
Sự mâu thuẫn trong cách nhìn nhận về bà càng đỉnh điểm khi miền Bắc gặp một
nạn đói lớn. Tư Hồng đã không ngần ngại vung số tiền khổng lồ để thu mua gạo
cứu tế cho người dân Nam Định và Hà Nam. Ghi nhận công trạng cứu đói này, triều
đình nhà Nguyễn đã đặc ân ban tặng cho bà bốn chữ vàng “Tiết hạnh khả phong”
viết trên bức biển vàng danh giá. Việc một người phụ nữ bị xã hội kỳ thị là “Me
Tây”, lại từng trải qua ba đời chồng nhưng lại được rước biển vua ban cho phẩm
hạnh đã trở thành một sự kiện chấn động khắp cõi Bắc Kỳ do lòng dạ hẹp hòi thời
bấy giờ.
Để ăn mừng sự kiện này, Tư Hồng đã mở một bữa tiệc xa hoa ngay tại ngôi
biệt thự ở ngõ Hội Vũ và mời đông đảo nhân sĩ, quan chức đến tham dự. Nhằm làm
tăng sự trang trọng cho ngôi nhà và chứng minh vị thế thượng lưu, bà đã lặn lội
tìm đến xin chữ cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến - lúc này đã cáo quan về ở
ẩn. Chính trong bối cảnh đầy trớ trêu này, các giai thoại văn học đã ra đời khi
cho rằng nhà thơ lớn của Việt Nam đã “tặng” cho nàng me Tây bức hoành phi châm
biếm cùng bài ca trù trào phúng nổi tiếng mang tên “Đĩ cầu Nôm”.
Nguyễn Khuyến vốn vô cùng khinh miệt thói trưởng giả học làm sang, sự lố
lăng của xã hội buổi giao thời và lối sống đầy tai tiếng của Tư Hồng. Tuy
nhiên, vì vị thế của bà lúc đó quá lớn nên cụ không thể thẳng thừng từ chối.
Thay vào đó, bậc đại khoa đã thâm thúy tặng cho bà bức hoành phi ba chữ: 之之也 (Chi Chi
Dã), kèm theo đôi câu đối chữ Nôm đầy ẩn ý:
“Tay
trắng làm nên, có tàn, có tán, có hương án thờ vua, danh giá lẫy lừng hăm sáu tỉnh;
Má hồng gặp vận, nào biển, nào cờ, nào sắc phong cho cụ, chị em hồ dễ mấy lăm
người”.
Khi bức hoành phi được trang trọng treo lên giữa phòng khách ngôi biệt thự
lộng lẫy, cả chủ lẫn khách áo quần bảnh bao lúc bấy giờ chẳng một ai hiểu được
ý nghĩa sâu xa của ba chữ 之之也. Cho đến một ngày, có
ông đồ quê ghé thăm, vừa nhìn thấy bức chữ trên tường liền vội che miệng cười
thầm.
Thấy điệu bộ lạ lùng, sau khi thết đãi cơm rượu chu đáo, cô Tư Hồng mới lân
la gạn hỏi về ý nghĩa thực sự của ba chữ ấy. Ông thầy đồ bèn giải thích: “Xét
về mặt ngữ nghĩa, ba chữ Chi Chi Dã (之之也) chẳng có
ý gì sâu xa cả. Chữ Chi (之) nghĩa là
đi, của, này, đó... nhưng trong khẩu ngữ Thanh - Nghệ, “Chi” lại là “Gì”. Còn
chữ Dã (也), trong
ngôn ngữ cổ là trợ từ đặt ở cuối câu để khẳng định, nghĩa là “vậy”. Nhưng trong
từ thuần Việt, “Dã” lại đồng âm với “Giã” trong giã gạo, giã lạc, giã vừng...
Vì giải thích trong lúc ngà ngà say, nửa tỉnh nửa lơ mơ, ông liền nói tuột ra
rằng cụ Yên Đổ thực chất đang chửi khéo cô đấy. Nghe vậy, Tư Hồng giật mình
thảng thốt gặng hỏi chửi thế nào. Ông thầy đồ mới tiết lộ đây thực chất là một
phép nói lái dân gian. Khi nữ gia chủ cố gắng thúc giục, ông liền ghé tai đáp
gọn: “Nghĩa là “Cha cha đĩ”!”.
Câu trả lời khiến nữ gia chủ bàng hoàng, chết lặng. Từ đó, bức hoành phi
“Chi Chi Dã” tại dinh cơ cô Tư Hồng đã đi vào giai thoại như một đòn roi châm
biếm sâu cay nhất của giới nho sĩ đương thời dành cho thói đời hãnh tiến, kệch
cỡm của giới nhà giàu, giới quan chức mới lên đời xe!?
Hoàng Xuân Họa
31/5/2026
Tài liệu tham khảo:
1. Đào Trinh
Nhất (1941), Cô Tư Hồng (Tiểu thuyết lịch sử), Hà Nội: Trung Bắc Thư Xã.
2. Nguyễn
Ngọc Tiến (2014), Me Tư Hồng (Tiểu thuyết và khảo cứu lịch sử), Hà Nội:
Nhà xuất bản Hội Nhà văn.
3. Nguyễn
Vinh Phúc, Các công trình nghiên cứu về lịch sử và văn hóa Thăng Long - Hà
Nội.
4. Giai thoại
và thơ văn trào phúng Việt Nam thế kỷ XIX.
5. Các tư
liệu lịch sử, văn hóa về bối cảnh Hà Nội cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.
6. Các tài
liệu nghiên cứu về hiện tượng xã hội “Me Tây” trong lịch sử thuộc địa.
