Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2026

Giới thiệu các Luật thơ, thể thơ, cách làm thơ - (tiếp theo)


9.
Cách đối âm trong thơ, phú

Phép đối, nói chung là bằng - trắc đối nhau sóng đôi cho tương xứng. Đối âm và đối tiếng: đối âm là âm bằng (b) đối với âm trắc (tr) hoặc ngược lại.

Ví dụ:

- “Trời” (b) đối với “đất” (tr).

- “Béo” (tr) đối với “gầy” (b).

- “Ăn” (b) đối với “nói” (tr).

- “Đi” (b) đối với “đứng” (tr).

- “Đất thấp” (tr) đối với “trời cao” (b).

Ngoài ra còn đem danh từ đối với danh từ, tính từ đối với tính từ để hai tiếng ngang nhau:

* “Sông” (danh từ) đối với “núi” (danh từ).

* “To” (tính từ) đối với “nhỏ” (tính từ).

* “Rầm rầm” (trạng từ) đối với “phăng phăng” (trạng từ).

 

Lấy chữ số đối chữ số:

Một chiếc cùm lim chân có đế
Ba vòng xích sắt bước thì vương
”.

Chín chục thiều quang trời ngó lại
Bốn nghìn lịch sử nước trôi xuôi
”.
                                      (Tản Đà)

Lấy thành ngữ, tục ngữ đối nhau:

Đầu gối quá tai (đối với) Miệng dai chão rách; Lắm kẻ yêu hơn nhiều người ghét (đối với) Một câu nhịn là chín câu lành, Nhai kỹ no lâu (đối với) Cày sâu tốt lúa...”.

10. Câu đối câu:

Câu đối câu phải tương xứng, âm tiết mỗi câu đều phải ngang nhau.
Ví dụ: Câu đầu 4 chữ, câu sau cũng phải 4 chữ:

Duyên kia đã vậy (đối với) thân này nương đâu”.
                                                   (Lê Ngọc Hân)

Núi thăm thẳm (đối với) rừng xanh xanh”.

Trong phép đối có hai cách: Tiểu đối và Bình đối.

a. Tiểu đối:
Là những từ ngữ trong cùng một câu đối diện với nhau:

“Khi gió mát (đối với) lúc trăng thanh”.

“Bàn vây điểm nước (đối với) đường tơ họa vần”.
(Ba từ trước (đối với) ba từ sau, bốn từ trước (đối với) bốn từ sau như trên).

b. Bình đối:
Tức câu trên đối với câu dưới:

“Đã mang tiếng đứng trong trời đất,
đối là:
Phải có danh gì với núi sông”.

 

11. Thể Câu Đối

Câu đối thơ, câu đối phú về nguyên tắc làm như thơ, như phú. Điểm khác biệt là câu đối chỉ có hai vế giải quyết một đề tài, do đó luật bằng trắc phải tương xứng:

“Lác đác mưa sa làng Lộ Vũ (tr-tr-b-b-b-tr-tr)

“Ì ầm sấm động đất Phong Lôi” (b-b-tr-tr-tr-b-b)

Những tiếng trắc ở vế trên đối với tiếng bằng ở vế dưới và ngược lại. Tuy nhiên, cũng có lệ ngoại trừ “nhất, tam, ngũ bất luận” (chữ thứ 1, 3, 5 không bắt buộc gắt gao).

Trong phép đối cổ, còn có 10 cách để đối cho chỉnh, cho giòn: Chính đối, Đích danh đối, Đồng loại đối, Dị loại đối, Liên châu đối, Song thanh đối, Điệp vận đối, Song nghĩa đối, Liên cẩm đối, Hồi văn đối. Để làm được câu đối hay, người viết cần hiểu biết sâu sắc về xã hội và con người.

Câu đối phú: Chia làm nhiều đoạn. Nếu tiếng cuối cùng của mỗi đoạn ở vế trên là bằng thì tiếng cuối đoạn tương ứng ở vế dưới phải là trắc, hoặc ngược lại:

“Mở khép càn khôn” (b), có ra tay mới biết” (tr)

“Ra vào trướng tướng” (tr), thử liếc mắt mà coi” (b)
                      (Nguyễn Hữu Chỉnh, thời Tây Sơn)

Quy tắc treo câu đối:
Vế trên (vế ra) có tiếng cuối cùng kết thúc bằng vần trắc. Khi treo, vế trắc luôn nằm bên tay phải (theo hướng nhìn của người đứng xem). Vế dưới kết thúc bằng vần bằng và nằm bên tay trái.

 

Một số câu thách đối và đối:

Ở Cổ Loa, nhân dịp trùng tu đền thờ An Dương Vương, phụ lão trong làng tổ chức giải trí bằng thi văn chương, sách họa. Một cụ đồ trong làng thách một vế đối:
- Thúy Kiều đi qua cầu, nhác thấy chàng Kim, lòng đã Trọng.

Vế ra rất tài tình: chữ “Kiều” có nghĩa là cầu, mà “Kim Trọng” lại là tên liền. Câu đối nêu lên được mối tình đoan trang, tình tứ chớm nở trong lòng Kiều. Mãi không ai đối được, sau có một du khách tham quan đối rằng:
- Trọng Thủy nhòm vào nước, thoáng thấy nàng Mỵ, mắt rơi Châu.
                                                            (Theo Vũ Ngọc Khánh).

Câu đối lại cũng tuyệt hay! “Thủy” là nước, “Mỵ Châu” lại là tên liền. Cả câu sau dựng lên được tấn thảm kịch trong lòng Trọng Thủy sau khi xong nhiệm vụ gián điệp, trở lại với lòng đau thương hối hận của mình.

 

Câu đối bằng tiếng Pháp:
Ngày xưa nhiều người biết chữ Pháp, nói tiếng Pháp nhưng không dùng để ra câu đối được. Vậy mà vẫn có đôi câu đối khá hóm hỉnh, tinh nghịch toàn chữ Pháp. Khoảng năm 1934, viên Toàn quyền Pierre Pasquier chết cháy trong một tai nạn máy bay khi y đang bay về nước. Có người đã làm đôi câu đối bằng tiếng Pháp như sau:
- Tous les Annamites sont si joyeux! Ce bel incendie nous venge bien!
- Chaque colonial est vraiment triste! Mille dangers semblables vous attendent”.

Phiên âm:
- Tú lê da-na-mít xông xi gioay-ơ; xơ ben lanh-xăng-đi, nu văng-giơ biêng.
- Sác cô-lô-ni-an e vre-măng t'rít, min đăng-giê xăm-bláp vu dát-tăng-đờ!"

Vũ Ngọc Khánh chuyển ngữ như sau:
-Mọi người Việt Nam đều rất hân hoan, trận lửa đẹp kia trả thù cho chúng tớ”;
-
Mỗi chú thực dân hẳn là buồn bã, nghìn tai nạn thế vẫn đang đợi lũ mày”.
                                    (Theo Vũ Ngọc Khánh và Hoàng Đức Thi).

 

Vế ra:

- “Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
Vế đối lại:

- “Sắc bất ba đào dị nịch nhân”.
(Mưa không then khóa mà lưu được khách lại. Sắc đẹp không sóng gió làm đắm lòng người).

 

Trong dân gian lưu truyền một vế đối, tương truyền rằng của bà Đoàn Thị Điểm lỡm Trạng Quỳnh:

- “Da trắng vỗ bì bạch

Nếu đúng vế đối đó của bà thi sĩ họ Đoàn thì đã mấy trăm năm rồi chưa ai đối được thật hay, thật chỉnh. Tôi nhớ vào thập kỷ 70 thế kỷ 20, trên mục “Câu lạc bộ chiến sĩ” của báo Quân đội nhân dân có kể chuyện về một chiến sĩ khi đánh nhau trong rừng già Trường Sơn. Một hôm ngồi trên võng giữa mưa phùn, buồn, anh bộ đội nhớ tới vế đối của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm và đã đối rằng:

- “Rừng sâu mưa lâm thâm”.

“Rừng sâu mưa lâm thâm” đối với “Da trắng vỗ bì bạch” là hợp. Tôi dám chủ quan tin rằng vế đối này là được nhất; “bì bạch” cũng là da trắng, “lâm thâm” cũng là rừng sâu (vì “lâm” là “rừng”, mà “thâm” là “sâu”). Tuy chữ và nghĩa còn đôi chút khiên cưỡng, nhưng khi chưa có vế nào đối chỉnh hơn, hay hơn nên ta tạm bằng lòng với vế đối của anh bộ đội kia vậy.

Có hai vế đối truyền miệng đang bỏ ngỏ, xin mời các bạn hãy thử sức mình: 

- “Song song hai cửa sổ, hai thằng ngồi trong cửa sổ song song...? (KD)

– “Cái cứt gì cũng phân, mà phân như cứt...? (Thanh Tịnh)

 

 Còn tiếp 

XEM BÀI TRƯỚC XEM BÀI SAU TRANG CHỦ