Thứ Năm, 25 tháng 4, 2024

CHUYỆN CÕI TRỜI & CHUYỆN CÕI ÂM


                                     Phần II

                        Cõi thiên đường (18)

 

Tiếp theo

                      KẺ CƠ HỘI HẾT CƠ HỘI 

Trời còn nhọ nhem chưa tỏ mặt rừng, lũ chim liếu điếu đã kéo đến cây sấu đầu lán cãi nhau inh ỏi khiến Minh tỉnh giấc. Nằm nguyên trong màn khởi động chân tay, chiếc phản ghép bằng ván mỏng kêu cọt kẹt theo từng nhịp cử động. Đang đà hứng khởi, Minh buột mồm hô to:
- Một hai một, một hai một! Dậy đi anh em ơi!


Có tiếng ai đó giong ngái ngủ cự nự cuối lán. Tiến nằm phản bên choảng liền một câu:
- Câm mõm đi! Chủ nhật được nghỉ để anh em ngủ thêm tí chứ. Người gì mà vừa mở mắt đã mở mồm, quang quác như quạ khoang đánh hơi thấy xác trâu bò thối trôi sông ấy!

Bị cụt hứng, Minh tung màn nhảy đại ra sân tập thể dục một mình.

Màn sương trắng là là bồng bềnh, phủ kín những ngọn núi và cánh rừng trước mặt. Hà Nội nằm sau những đồi cà phê, đồi chè mới trồng kia, nhưng phải đi ô tô, tàu hỏa từ sáng sớm đến tối mịt mới về tới nơi. Ước gì có đôi hài nghìn dặm để Chủ nhật về ăn cùng mẹ bữa cơm, tối lại lên kịp sáng thứ Hai đi làm thì vui biết mấy.

Vừa tập thể dục vừa nghĩ vẩn vơ, lòng Minh rộn lên nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ da diết. Tức khí, Minh “quăng” nỗi buồn lên núi, nhảy đại vào lán giật màn của Tiến, kéo chân Dũng, co tay Hoài, bắt cả ba dậy ra suối đánh răng cùng. Nghỉ Chủ nhật giữa rừng sâu hoang vắng chẳng biết chơi gì, sau sáu ngày làm việc vất vả, cứ rỗi rãi là lại sinh thèm ăn.

Họ bèn rủ nhau đi tìm anh Hồ Nâu, kéo anh ra phía suối nơi vực nước sâu hườm vào lèn đá. Sau khi biếu anh mấy bao thuốc lá Đồ Sơn, Minh vẽ xuống mặt cát mịn một vòng tròn. Nhìn cái vòng Minh vẽ, anh lắc đầu, giơ ngón trỏ vẽ vào không khí ý bảo phải thu nhỏ lại. Minh hiểu ý, xoa tay xóa hình cũ, vẽ một vòng tròn mới nhỏ hơn.

Anh Hồ Nâu vẫn lắc đầu:

- Dưới nớ hổng có con mô to rứa!

Minh vẽ lại một vòng tròn nhỏ hơn nữa. Lần này anh Nâu mới gật đầu, rồi cởi áo, nhảy ào xuống suối, lặn biến vào dòng nước trong xanh, làm tóe những vòng sóng đuổi nhau chạy dài rồi tan dần vào hai bờ cát. Bốn “con sâu gắp” đứng trên bờ hau háu chờ đợi.

Lát sau, mặt suối sủi tăm, đầu anh lao vọt lên. Một tay vuốt nước trên mặt, tay kia anh giơ cao một con ba ba. Hai ngón tay cái và trỏ móc chặt vào hốc chân sau của nó. Hai chân trước con vật đạp lấy đạp để, cái cổ thò ra hết cỡ, ngoặt lên lưng chới với muốn tìm đường thoát thân. Nhưng với người dày dạn kinh nghiệm như anh, mọi sự vùng vẫy của nó đều vô ích.

Anh thong thả bơi vào bờ. Đem con ba ba đặt xuống, ướm vừa khít cái vòng Minh vẽ trên cát. Anh ngước nhìn mọi người với một nụ cười rất tươi. Xin cam đoan chưa bức tranh hay trang văn nào tả được nụ cười vô tư ấy của Hồ Nâu. Hai hàm răng trắng muốt bừng sáng, tràn đầy năng lượng như vầng dương tỏa nắng ban mai khiến tinh thần  chúng tôi vô cùng phấn chấn. Tính một con không đủ cho bốn người lai rai. Bốn đứa bàn nhau về căng tin mua thêm thuốc lá để nhờ anh bắt thêm con nữa.

Anh Hồ Nâu là một người nghiện thuốc lá nặng. Trừ lúc làm việc hay khi ngủ, còn lại, điếu thuốc lúc nào cũng ngật ngưỡng trên môi. Khói tỏa nghi ngút, hết vờn quanh mặt lại bảng lảng trên đỉnh đầu; nhìn vào anh, người ta có cảm giác anh luôn mang theo một vầng mây mờ ảo bên mình.

Anh vốn là người Thượng, tập kết ra Bắc sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Những ngày đầu, anh được cử về Trường Bổ túc Công nông Trung ương tại Giáp Bát để học văn hóa. Suốt ba năm vật lộn với chữ nghĩa, Toán, Văn… anh cũng chỉ lấy được tấm bằng lớp 7 theo diện “đỗ vớt” nhờ chính sách ưu tiên dành cho cán bộ người Tây Nguyên. Trong khi đồng đội cùng kháng chiến đều đã tốt nghiệp cấp ba, người vào đại học, người sang Liên Xô hay Trung Quốc tu nghiệp, thì không rõ do tắc trách ở khâu nào, anh lại bị điều về Tập đoàn Sản xuất M N - nơi tập trung những người lý lịch có “vấn đề”. Họ vốn là thành phần tề, điệp từng làm việc cho chính quyền Pháp ở miền Trung và Nam Bộ, bị buộc đi tập kết để giữ bí mật, tránh làm lộ các lực lượng nằm vùng của ta trong đó. Giữa những con người “không rõ nhân thân” ấy, một cán bộ kháng chiến thực thụ như anh bỗng chốc rơi vào tình cảnh trớ trêu như vậy.

Tàu Ba Lan chở lực lượng tập kết ra miền Bắc đổ bộ lên bãi biển Sầm Sơn. Sau đó, các cán bộ dân chính Đảng được phân công về cơ quan, địa phương theo đúng chức vụ, thì số còn lại - vốn là thành phần tề, điệp bị cưỡng ép tập kết - phải nằm chờ chủ trương từ cấp trên. Do các điểm tiếp nhận quá tải, Ban đón tập kết lập danh sách đưa họ về các tỉnh kết nghĩa Bắc - Nam để anh em đùm bọc lẫn nhau. Oái oăm thay, nơi tiếp nhận do không nắm rõ nguồn gốc nên cứ ngỡ tất thảy họ đều là người kháng chiến thực thụ.

Vốn là những tay sai hạng bét trong bộ máy hành chính cấp xã thời 1946 - 1954, đám người này “học không hay, cày sợ bùn lấm”, cả nửa đời chỉ quen nghề do thám, chỉ điểm để kiếm chút “bơ thừa sữa cặn”. Tuy sức dài vai rộng nhưng nghề ngỗng chẳng biết gì, thật khó để xếp họ vào việc gì cho phù hợp giữa lúc miền Bắc đang bộn bề trăm công nghìn việc. Bởi thiếu thông tin, người ta mặc nhiên coi họ là người yêu nước; thế là họ được đà tự khai những bản lý lịch “bịa” với đủ thứ công lao mùi mẫn như những câu vọng cổ họ thường ngâm nga lúc nhớ nhà. Kẻ xưng giữ chức này, người nhận làm tước nọ, rất oai hùng lắm!

Tỉnh lưu họ lại nhà khách để an dưỡng và bồi dưỡng thêm chính trị, củng cố tinh thần cách mạng; nhưng thói buông thả và lưu manh lính tẩy đã trỗi dậy ngay tức khắc. Họ rượu chè lướt khướt, ê a ba câu bài chòi, cải lương rẻ tiền để tán gái, tranh giành yêu đương với đám thanh niên địa phương, gây náo loạn cả một thị xã vốn dĩ yên bình bên dòng sông hiền hòa trước đây.

Cuối cùng, tỉnh đành cấp kinh phí lập lán trại dưới Bãi Lai để họ khai hoang, trồng trọt, lập nên Tập đoàn Sản xuất MN. Hai năm đầu được bao cấp từ A đến Z, nhưng sang năm thứ ba khi phải tự lực cánh sinh thì nảy sinh vấn đề: làm được một cân sản phẩm, họ lại đòi ba lần quyền lợi. Hết chịu nổi, tỉnh đành nhập tập đoàn đó vào Nông trường Sông Thu. Một nông trường đang làm ăn có lãi, khi tiếp nhận hơn ba trăm con người này bỗng lỗ vốn liền tay. Lương tháng vẫn lĩnh đều nhưng sản xuất chẳng ra sản phẩm; họ “trồng mía hóa lau, trồng củ tía ra củ nâu”. Để khắc phục hậu quả, tỉnh và nông trường đành chia nhỏ lực lượng này, phân đều về mỗi đội sản xuất vài chục “vị”.

Anh Hồ Nâu là một cán bộ kháng chiến thực thụ, thương tích đầy mình, thành tích cũng đỏ ngực. Vốn yêu cuộc sống hoang dã, anh dựng một cái nhà sàn nho nhỏ cạnh khu tập thể. Muốn ăn cá, đêm đêm anh lại xuống suối rọi đèn pin chém cá; thích thịt chim thì vác nỏ vào rừng; muốn ăn thịt chồn, thịt cáo thì đặt bẫy. Vậy mà lạ thay, món ba ba nấu chuối xanh, đậu phụ, thịt ba chỉ cùng đủ thứ gia vị ngon là vậy anh lại chẳng bao giờ đụng đũa. Anh bảo:

- Tau ăn con ni là chạy nhà cầu không kịp!

 

Những chàng trai, cô gái Hà Nội tình nguyện lên xây dựng kinh tế miền núi đều đang ở độ tuổi mười tám, đôi mươi phơi phới. Họ mang theo bầu máu nóng đến nơi gian khó để cống hiến, sống hồn nhiên và làm việc vô tư: từ khai hoang, đào hố, gánh phân đến trồng cà phê, chè, sắn... Việc gì cũng xông pha theo tiếng kẻng làm bằng vỏ bom lép vang vọng khắp núi rừng mỗi ngày.

“Keng... keng... keng!”, ba tiếng mở đầu ngày mới, trai gái từ các lán trại vùng dậy tập thể dục. Lại ba tiếng kẻng gọi đi ăn sáng với bát ngô mảnh nửa hấp nửa bung, nhai sái quai hàm mới nuốt nổi. Một hồi chín tiếng là lúc cả đội vác dao, vác cuốc ra lô, ra rẫy làm việc; và chín tiếng tiếp theo báo hiệu giờ nghỉ trưa. Năm tiếng, mọi người vác bát đũa xuống nhà ăn. Sáu người chung một chậu cơm, đã độn ngô mảnh còn “cõng” thêm sắn tươi thái lát; thức ăn thì trưa đu đủ xào, chiều “cà lào” luộc (tiếng Sán Chỉ gọi đu đủ là cà lào). Sinh hoạt kham khổ là thế, vậy mà họ vẫn làm việc say sưa. Tháng có bốn ngày Chủ nhật thì chỉ được nghỉ hai, còn lại là lao động XHCN hoặc làm để ủng hộ phong trào này, phong trào nọ... Có đến 101 lý do để lao động ngày Chủ nhật, nhưng tất cả họ vẫn vô tư, chẳng chút từ nản.

                             HXH

(Còn nữa)

XEM BÀI TRƯỚC XEM BÀI SAU TRANG CHỦ