Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2026

Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn (Tiếp theo)

 

30. Thơ xướng họa (phần này chỉ giới thiệu những điểm chính):

Trong lúc trà dư tửu hậu, khi hứng thú, người làm thơ xướng lên bài tứ tuyệt, bài thất ngôn bát cú hoặc một bài theo thể thơ khác, rồi mời bạn thơ họa lại ngay bên mâm tiệc cho cuộc rượu thêm vui, thêm đậm đà ý vị. Thơ xướng họa thường lấy một sự kiện nào đó làm đề tài, cũng có khi vì đọc một bài thơ của bạn bè thấy tâm đắc mà đem họa lại.

Thể thơ tự do (tiếp theo)

 

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2026

Giới Thiệu Luật Thơ, Các Thể Thơ, Cách Làm Thơ

 
                  

29. Thơ tự do: Khi mới xuất hiện, có người chê là “thơ buông”. Thơ tự do thuộc dòng thơ Mới (1932 - 1945). Trước đó, thi sĩ Tản Đà từng cách tân trong một số bài thơ của mình theo lối thơ tự do (thơ Mới), như bài: “Cảm thu - Tiễn thu”. Ngay dưới đầu đề bài thơ, Tản Đà ghi: “Tháng chín năm Canh Thân - 1920”.

Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn (phần tiếp)

 

28. Thể Phú:

Phú hành văn khác với thơ. Phú có 2 thể: cổ phú và Đường phú.

1).  Cổ phú: Có vần và không đối nhau, như một bài ca dài hay là bài văn xuôi có vần không đối nhau, không hành xích gì rối rắm.

2).  Đường phú: Đường phú có vần và đối nhau. Cách gieo vần cũng như thơ, có cả hạn vận và phóng vận. Mở đầu bái phú là hai câu, mỗi câu 4 tiếng theo lối bình đối:

Vườn hoa rắc gấm

Giặng liễu buông mành

Hai câu mỗi câu 4 tiếng đối nhau gọi là bát tứ. Hai câu đối nhau mỗi câu 5 tiếng trở lên gọi là song quan (hai câu cửa), hai câu làm một vế trên đối với hai câu vế dước gọi là cách cú (cách một câu mới đối). Ba bốn câu làm một vế trên, đối với dưới cũng ba bốn câu, gọi là hạc tất (gối đầu con hạc).

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ (tiếp theo)

 
            Bìa 1 XB 2004

23. Thể thơ Yết Hậu:
Yết hậu: là tiếng cuối của bài thơ bao giờ cũng như một tiếng kêu, tạo sự bất ngờ. Thơ Yết Hậu thường làm để mua vui, giải tỏa nỗi buồn, hoặc để giễu cợt, châm biếm.

Ví dụ:
Sống ở dương gian đánh chén nhè,
Chết xuống âm phủ cắp kè kè.
Diêm Vương phán hỏi rằng: chi đó?
Be!”.
                  (Phạm Thái, 1776–1813)

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

Giới thiệu các Luật thơ, thể thơ, cách làm thơ - Hoàng Xuân Họa biên soạn (Tiếp theo)

 
              Trang xi nhê 

22. Thể thơ Tứ tuyệt:

Đúng ra tên gọi trong thi pháp Trung Hoa là thơ Tuyệt cú (ngắt lấy 4 câu từ bài Đường luật). Tên gọi Tứ tuyệt phổ biến tại Việt Nam do nhà văn hóa Phan Kế Bính viết trong cuốn Hán Việt văn khảo. Khái niệm này dễ hiểu hơn nên đã đi vào tâm thức người làm thơ và người thưởng thức thơ Việt Nam.

Điều thi vị nhất của thể thơ này chính là sự linh hoạt trong đối liên. Dù chỉ có 20 câu hoặc 28 chữ, nhưng nếu người làm thơ biết cách tận dụng cấu trúc Khai - Thừa - Chuyển - Hợp, bài thơ sẽ tạo ra một sức nén cảm xúc rất lớn, đặc biệt là ở câu “Chuyển” (câu 3) trước khi kết thúc trọn vẹn ở câu “Hợp”.

Giới Thiệu Các Luật Thơ, Thể Thơ, Cách Làm Thơ (tiếp theo)


            Bìa 4 XB 2004

21. Thể thơ Đường luật:

Thơ Đường luật xuất hiện vào đời nhà Đường bên Trung Quốc (620 - 905). Đường luật là thể thơ có vần, đối nhau và hạn định bằng trắc trong thơ rất chặt chẽ. Bằng trắc phải theo đúng luật, sai là thất luật.

Khởi luật: Tiếng thứ 2 câu đầu gieo vần bằng thì bài thơ đó là luật bằng; tiếng thứ 2 gieo vần trắc thì bài thơ đó là luật trắc. Quy tắc bằng trắc cụ thể như sau:

XEM BÀI TRƯỚC XEM BÀI SAU TRANG CHỦ