17. Thể thơ Lục bát:
Lục bát là thể thơ dân gian của dân tộc ta, có âm điệu “trên 6 dưới 8”. Bắt đầu
bằng câu 6 tiếng (câu lục), tiếp là câu 8 tiếng (câu bát), cứ thế diễn đạt cho
đến hết ý.
Quy luật gieo vần:
Bao giờ cũng khởi đầu bằng vần Bằng: Tiếng thứ 6 của câu lục phải là thanh
Bằng.
Tiếng thứ 6 của câu lục và tiếng thứ 6 của câu bát phải vần với nhau.
Tiếng thứ 8 của câu bát phải vần với tiếng thứ 6 của câu lục tiếp theo (vừa
gieo vần chân, vừa gieo vần lưng).
Nhịp thơ:
Thường là nhịp chẵn (2/2/2) hoặc nhịp lẻ (3/3):
“Khi nhà em / ở phía đông
Mỗi ban mai / mặt trời hồng / chỗ em
Tưởng như / em đó / bên thềm
Hồng hào / chải mái / tóc mềm / xuống vai...”
(Nguyễn
Khoa Điềm)
“Đường xuân / ngân tiếng / còi tàu
Trong veo / sợi nắng / thẫm màu / núi xa.
Mượt mà / bờ cỏ / vút qua
Vương vương / khói bếp / là là / mây đưa.
Đồng Đăng / có phố / Kỳ Lừa
Vẳng nghe / câu hát / ngày xưa / giục lòng...”
(Hoàng
Thị Xuân Quý)
Cấu trúc âm Bằng - Trắc:
Do đặc tính âm điệu nên cần phối hợp Bằng (B) - Trắc (T) nhịp nhàng. Thông
thường, tiếng thứ 2 là thanh Bằng, tiếng thứ 4 là thanh Trắc, tiếng thứ 6 là
thanh Bằng. Tuy nhiên, tiếng thứ 2 không nhất định phải là thanh Bằng, có thể
dùng thanh Trắc (biến thể):
“Đau đớn thay phận đàn bà...”
“Lẩn quất chi chốn phồn hoa...”
“Xây dọc anh lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.”
(Ca
dao)
“Mành rủ liễu, tán dương tùng
Trúc khua vách đá, lan lồng áo tiên.”
(Phạm Thái)
“Vắng yếm sồi, ngực thanh tân
Hình như cũng có đôi phần lỏng lơi...”
(Nguyễn Vũ
Tiềm)
Trong câu bát: Tiếng thứ 2 là thanh Bằng, tiếng thứ 4 là thanh Trắc, tiếng
thứ 6 là thanh Bằng và tiếng thứ 8 cũng là thanh Bằng:
“Chữ ‘tài’ (B),
chữ ‘mệnh’ (T) khéo ‘là’ (B) ghét ‘nhau’
(B).”
Hay:
“Những ‘điều’ (B)
trông ‘thấy’ (T) mà ‘đau’ (B) đớn ‘lòng’
(B).”
Cũng có thể dùng thanh Trắc tại tiếng thứ hai cho cả cặp lục bát, hoặc dùng
thanh Trắc riêng ở câu bát:
“Có rửa thì rửa chân tay
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.”
(Ca
dao)
“Dọc theo bờ biển tôi đi
Đào cát ngủ nghe tiếng xe thở
dài...”
(Trinh
Đường)
“Từ ô cửa sổ nhìn ra
Tôi thấy cô gái, ngôi nhà, cái
cây
Ngôi nhà vôi gạch đang xây
Cô gái đang lớn, cái cây chưa
già...”
(Thanh
Thảo)
Lối tiểu đối trong Lục bát:
Lục bát có thể dùng phép tiểu đối ngay trong câu lục hoặc câu bát:
“Sương in mặt / tuyết pha thân.”
“Người nách thước / kẻ tay đao.”
(Nguyễn
Du)
“Thành xây khói biếc / non phơi bóng vàng.”
“Đành thân phận thiếp / ngại danh
giá chàng.”
“Tính uyển chuyển của câu thơ lục bát tạo cho nó
khả năng biểu hiện được nhiều lĩnh vực của cuộc sống, nhiều sắc thái của tình
cảm...” (Nguyễn Hòa Bình - Về sự đổi mới của thơ lục bát, báo Văn Nghệ số 51
ra ngày 20-12-2003).
Vào đầu những năm 70 thế kỷ trước, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trên
thi đàn miền Bắc, một số nhà thơ trẻ như: Lý Phương Liên, Nguyễn Duy, Nguyễn
Trọng Oánh, Nguyễn Trọng Tạo… đã mạnh dạn biến thể thơ lục bát bằng cách bẻ
đôi, bẻ ba, bẻ tư câu lục hoặc câu bát để xuống dòng. Trường hợp Lý Phương
Liên, thơ chị vừa xuất hiện đã nhận được lời khen từ bậc đàn anh trên báo Nhân
Dân: “Một bông hoa vừa nở đã ngát hương”.
Xin dẫn cả bài thơ lục bát biến thể đó:
LỜI RU VỚI ANH
Chim bằng ngoan của em ơi
Đêm nay ngon ngủ, sáng mai lên đường
Em ngồi nhìn ngắm yêu thương
Cho no mắt nhớ ngày thường chim bay
Em muốn anh như bàn tay
xòe ra là gặp
Chim bằng trời biếc
Chim bằng con trai,
Ngủ ngoan anh nhé sáng mai lên đường
Ở nhà bên cạnh người thương
Để chim nghỉ cánh dặm đường đời xa
Lồng con, phòng hẹp đôi ta
Chim bằng chẳng thể quanh ra quẩn vào
Xa anh nói nhớ làm sao
Chân đứng tổ kiến lòng chao gió cành
Lẽ nào em buộc cánh anh
Buộc cánh anh,
Buộc cánh anh cũng chẳng thành tình yêu
Trời rộng chim reo
Mắt em mai sớm dõi theo chim bằng
Nỗi nhớ trong lòng
Cho chim cánh gió
Cho ngày nắng nỏ
Chim bay.
Ngủ ngoan anh nhé đêm nay
Để mai xa suốt tháng ngày có em.
(Lý Phương
Liên)
Có trường hợp để nguyên câu sáu, ngắt câu tám cho xuống dòng:
“Thơ yêu chẳng có một dòng
Tôi yêu
tôi để trong lòng,
tôi yêu…
Dẫu cho những sớm những chiều
Mưa Trường Sơn thấm ướt nhiều trang thơ
Dẫu cho ai có mong chờ
Tôi không dám ước
ai chờ đợi tôi...”
(Nguyễn Trọng Oánh)
Hoặc câu sáu xuống dòng, câu tám để nguyên:
“Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
(…)
Mai sau
mai sau
mai sau
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh…”
(Nguyễn
Duy)
Hoặc kiểu leo thang:
“Đời là sa mạc lửa thiêu
Tôi khao khát một tình yêu cháy lòng
Em
con chim nhỏ
lượn vòng
Tôi quăng lưới nhốt
giữa
lồng
tim
tôi
Nhưng tôi thiếu
nắng
mặt trời
Thiếu rừng cây với núi đồi tặng chim”.
(Lê Đại
Thanh)
“Chia cho em một đời thơ
Một lênh đênh
một dại khờ
một tôi
Chỉ còn cỏ mọc trên trời
Một bông hoa nhỏ
lặng
rơi
mưa
dầm”
(Nguyễn
Trọng Tạo)
Trong ca dao dân gian xưa, cũng thấy nhiều trường hợp dùng lục bát biến thể
(còn gọi là lục bát gián thất), gieo vần Trắc ở cuối câu lục và
tiếng thứ sáu câu bát:
“Tò vò mày nuôi con nhện
Đến khi nó lớn nó quyện nhau đi”.
(Ca
dao)
“Có yêu thì yêu cho chắc
Bằng mà trục trặc, trục trặc cho luôn”.
“Môi xẻ, mũi lân, mắt lộ
Khắp xứ này không ai ngộ bằng em”.
(Vè dân gian)
Hoặc biến đổi cấu trúc câu (vè bốn tiếng nhập lục bát):
“Quả cau nho nhỏ
Cái vỏ vân vân
Nay anh học gần
Mai anh học xa
Tiền gạo thì của mẹ cha
Cái nghiên cái bút, thiệt là của em”.
(Ca
dao)
Thi sĩ Tản Đà trong nhiều bài thơ của mình (người mà nhà nghiên cứu văn học
Hoài Thanh gọi là “tiên sinh”) cũng đã sử dụng biến thể:
“Gánh tình nặng lắm ai ơi!
Tiền mang bạc giắt thuê ai đỡ cùng.
Đường đi nho nhỏ
Bờ cỏ xanh xanh
Không duyên không nợ không tình
Đồng không quạnh vắng sao mình gặp ta?”.
(Khối
tình con II)
Còn tiếp
