Phần II
Cõi thiên đường (4)
Trải qua những năm tháng làm việc nơi trần thế, quen biết đủ mọi chức sắc từ thần sông, thần núi đến Thổ địa các cấp, các vị Phán quan đã tường tận mọi chiêu trò của cõi người. Họ hiểu rõ thứ gì thực giá trị, thứ gì là hư danh; đâu là vàng ròng, đâu là bùn cát. Phải nói rằng, các vị ấy cũng ma lanh, ma bùn, “ma quá” chẳng kém gì đám quan cai trị dưới trần.
Cách đây
vài chục năm, đất đai ở các thành phố lớn rẻ như bèo, hàng xóm láng giềng thân
nhau, quý nhau có thể cắt cho vài mét vuông không phải đắn đo suy nghĩ. Thế
rồi sang thập kỷ 90, giá đất “nhảy mú” chóng mặt. Những kẻ buôn đất hôm trước
vừa mua một mảnh, ngủ một đêm dậy đã lãi gấp đôi, gấp ba, bỗng chốc hóa thành
đại gia bất động sản. Thành những gương mặt núng nính thịt, tha hồ ăn to nói
lớn, thậm chí thao túng được cả “thần linh Thổ địa”.
Năm Canh
Thìn (2000), Sở Vương Hành khiển và Biểu Tào Phán quan xuống trần nhậm chức.
Đến kỳ mãn hạn vào cuối năm, khi bàn giao lại cho Ngô Vương Hành khiển và Hứa
Tào Phán quan cai quản năm Tân Tỵ (2001), Biểu Tào nhất quyết không về trời.
Ông ta lấy cớ ở lại “đi du lịch”. Thực chất, về trời cũng chỉ quanh quẩn uống
rượu, đánh cờ, nhàn rỗi đến tẻ nhạt. Ở lại trần gian rong chơi chẳng sướng hơn
sao, vì trần gian luôn đầy rẫy của ngon vật lạ cho họ bù khú chén chú chén anh.
Ông ta -
Biểu Tào - đóng vai một Việt kiều về nước tìm cơ hội làm ăn. Mục tiêu của ông
ta là bãi đất hoang tại một xã ngoại thành. Nơi ấy vốn có một dự án “cực kỳ quy
mô”, được Hội đồng nhân dân các nhiệm kỳ trước ra nghị quyết xây dựng Nhà văn
hóa xã với đủ loại hình: hội trường, thư viện, cho đến sân bóng đá, tennis, cầu
lông... Thế nhưng, vì huyện chưa rót kinh phí nên đất vẫn để cỏ mọc xanh rì.
Đám trẻ con trong xã tranh thủ chiều chiều ra đó đá bóng, thả diều. Giờ đây,
khi có “doanh nhân Việt kiều” muốn đầu tư, chính quyền sẵn sàng nhường đất
trước. Họ tặc lưỡi: bao giờ có tiền thì xây nhà văn hóa sau, thiếu gì những khu
đất khác. Kế hoạch còn trên giấy, lo gì!
Xã hạ
quyết tâm lãnh đạo nhân dân bàn giao đất cho vị doanh nhân “Việt kiều” nọ. Thực
ra, xã không gật đầu cũng chẳng xong, bởi huyện đã phê, tỉnh đã duyệt; cấp dưới
sao dám trái lệnh cấp trên? Vả lại, cái viễn cảnh xã mình sắp “hóa rồng” thành
người đô thị đã cận kề. Dân thành thị ai lại đi “bán mặt cho đất, bán lưng cho
trời”, khổ mãi rồi, dây vào bùn đất cho cháy nắng sạm da thì còn ra thể thống
gì. Đã là người thành thị thì da dẻ phải trắng nõn, hồng hào cho ra cái dáng
người phố thị!
Không
chỉ khu đất quy hoạch, “quan trời” còn lấy thêm dăm bảy mẫu ruộng lúa đang xanh
tốt, thâu tóm cả khu đầm hồ mà tập thể nông dân đang đấu thầu thả cá, nuôi tôm.
Vị Phán quan nọ liền phù phép, biến những đồng đô-la âm phủ thành tiền trần
gian đem đền bù cho họ. Mỗi mét vuông “bờ xôi ruộng mật" chỉ đổi lấy
25.000 đồng – cái giá được gọi là “hỗ trợ hoa màu”. Bởi đất đai là của thiên
nhiên, do Nhà nước quản lý, Nhà nước muốn thu hồi lúc nào chẳng được… Thân phận
dân đen thấp cổ bé họng, cấm được kêu ca!
Những
người nông dân chất phác đành bấm bụng cầm xấp tiền đền bù, lòng vô cùng xót
xa mà vẫn phải nhận. Rồi đem tiền sửa nhà sửa cửa, sắm tivi, tủ lạnh, tậu xe
máy; cho con cái đi hát karaoke, học nhảy đầm để nếm mùi “văn minh” bằng người
thành thị cho đã cái đời. Và thong dong bát phố, hai tay thọc túi quần, hít
khói tàu xe thay cơm mà sung sướng, cần gì giữ đất giữ ruộng cho cực thân!
Nhưng
ngày vui ngắn chẳng tày gang. Khi tiền cạn, đất không một tấc cắm dùi, cả gia
đình đành dắt díu nhau lên thành phố. Chồng làm cửu vạn, vợ đi buôn đồng nát,
con cái đứa đánh giày, đứa bán báo rong... Lúc ấy, họ mới thực sự “tận hưởng”
trọn vẹn là người thành thị; để biết ơn “trời” đã cho họ một chuyến đổi đời...
trắng tay cho quên đất!
HXH
(Còn nữa)
